Home » Bài của bạn » MỸ CẢM TRONG “VỀ LẠI TRIỀN SÔNG”

MỸ CẢM TRONG “VỀ LẠI TRIỀN SÔNG”

(Đọc Về lại triền sông của Nguyễn Thế Kỷ)

VÕ VĂN HẢI

Trong “ tự bạch” của tác giả ở Lời mở đầu, từ sự hối thúc của bạn bè, Nguyễn Thế Kỷ đã gom lại những bài thơ  anh viết trong ba bốn chục năm trời , quá nửa viết trên điện thoại cầm tay- viết tranh thủ trên đường công tác, để có  tập thơ này, và  bây giờ đem về lại triền sông quê.

Triền sông là điểm đến đầu tiên và tất yếu ở buổi bình minh văn hóa của nhân loại. Là nôi êm, là điểm xuất phát, dấu ấn trong tiềm thức mỗi con người xa quê. “ Đất nước tôi mở cửa là sông/ Ông bà mẹ cha ngồi nghe gió kể…” ( Nghe đất nước tự tình- Trần Huy Minh Phương). Ấy  nên  Về lại triền sông là về lại nơi chôn rau  của mình .

Nguyễn Thế Kỷ  hiện là một trong  những  lãnh đạo trọng trách, nhưng từ cốt lõi, anh hết sức bình dị , gần gũi.  Cảm nhận  đầu tiên của độc giả là tình yêu và  sự quăn thắt của tác giả đối với Đất nước-  bằng cả  tâm  khảm  của một  người  dân  Việt. Mảng đầu tiên trong tác phẩm  là  tình yêu Tổ quốc:

Là sự trãi lòng trước những mất mát đau thương to lớn, không thể đếm đo so sánh:

  

Tác giả Nguyễn Thế Kỷ

Nếu có thể đo xương máu tiền nhân

Trường Sơn ngút ngàn dễ gì so được

Bao người mẹ, người vợ, người em- nước mắt

Hồng Hà , Cửu Long đâu thể sánh cùng..

Những cuộc chia ly, những vành khăn trắng…

ạn nghĩa trang hương khói nguyện cầu

                                                          (Tổ quốc).

Là  ngậm ngùi tưởng nhớ công lao hy sinh của cha ông,  của đồng bào , đồng chí:

 

                              Đâu rồi ngày ấy trong lau lách

                              Hạt muối nhường nhau mặn tới giờ

                              Xác cha giặc kéo bầm thân lộ

                              Gốc tràm, ngọn cỏ cũng thương đau,

 

                               Đâu rồi nơi bạn ta nằm lại

                               Lục bình thành nấm mộ trên sông

                               Màu hoa tím đỏ như màu máu

                               Như ngọn đèn chung mấy lỡ làng.

                                                      (Chiều Cần Thơ) 

 

                                 Năm ấy giữa mênh mông Đồng Tháp

                                  Nắng chiều nhòa nhạt góc nghĩa trang

                                 Thằng bạn ngày xưa cùng lớp học

                                  Dòng tên lặng lẽ tấm bia mòn.

                                                 (Cội nguồn)

Khối lượng thơ ca về nỗi đau này là khổng lồ, là “ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm”, là “Mười ngàn liệt sỹ Trường Sơn/ Trùng trùng bia mộ trống trơn tên người”, là “ màu hoa đỏ trước hoàng hôn”…Nhưng  thơ Thế Kỷ  xuất hiện trong ngữ cảnh khác: dọc đường kinh lý, mỗi chỗ đặt chân tới, anh đều  không quên tưởng nhớ tri ân  sự hy sinh của tiền nhân. Máu xương đó không chấp nhận  tình cảnh biên giới biển cả non sông bị kẻ thù xâm hại, anh nhức nhối, trăn trở, đau xót:

                               Biển dẫu yên mà lòng ta lại động…

                               Bỗng hiển hiện trang sử thời mở cõi

                               Máu cha ông còn bầm đỏ hoàng hôn…

                               Đêm không ngủ Trường Sa đêm trở gió

                               Gió hồng hoang ào ạt phía Hoàng Sa

                                Bao xương máu đắp hình hài Tổ quốc

                               Áp cờ đỏ lên tim mắt bỗng lệ nhòa.

                                                    (Thao thức Trường Sa).

Sao biển yên mà lòng ta động?  “ Động ” vì gió chướng, gió hồng hoang  mang nặng âm khí , mang điềm gở  của kẻ thù truyền kiếp phương Bắc tràn qua,  gào hú trên hình hài Tổ quốc,  trên  xương  máu cha ông bao đời mở cõi.

Sao “ áp cờ đỏ lên tim”  mà “ bỗng lệ nhòa”? Ta khóc vì máu tiền nhân đồng bào đồng chí  nhuộm  đỏ , đọng lại trên màu cờ ; hay  vì canh cánh bên lòng : giang sơn có thể lầm than vì có kẻ mang dòng máu Lạc Hồng nhưng  đê hèn Ích Tắc: “ Ôi cha ông ta bao phen thắng xâm lược/  Có buồn không sinh ra lũ đê hèn…” ( Nguyễn Trọng Tạo).

Và anh không chỉ một lần nhắc đến  Hoàng Sa, Trường Sa:

Ôi Tổ quốc , biên cương chưa yên giấc

                                        Đêm quặn lòng máu thịt Hoàng Sa

                                      Ngày đỏ mắt Trường Sa giông bão

                                       Lại bút, gươm giữ cõi, xây nhà.

                                                (Tổ quốc)

Với nguyện ước yên bình trên đất  Rồng Tiên mở cõi:

 

                                        Biển xanh ôm ấp trời xanh

                                          Rồng Tiên thủa ấy sinh thành Trường Sa…

                                         Đêm qua trong giấc chiêm bao

                                         Có anh lính trẻ dục trâu ra đồng

                                          Luống cày thao thiết bên sông

                                          Và tung sóng trắng điệp trùng Trường Sa.

                                                                                                  (Trường Sa).

Mảng thứ hai, là tình yêu của Tác giả dành cho mọi chốn  mọi miền đất nước, nơi anh – Người thơ, người kinh lý- đặt chân tới.

Anh “lần”tới biên cương địa đầu Tổ quốc:

                                   Sau ngàn năm, sau vạn năm

                                   Tôi lần câu hát xa xăm tìm về…

                                   Mỏi mòn nửa kiếp hồng nhan

                                    Sương khuya nhuốm tóc mưa ngàn dội vai

                                    Tạc trong trời rộng đất dài

                                    Cho muôn sau  bức tượng đài tình yêu.

                                             (Trước nàng Tô thị).

Nàng Tô Thị, hình tượng lưu kho trong tâm thức mọi người Việt ; “ Đầu nước đá ôm con/ Cuối nước đá đợi chồng/ Đâu chẳng sông Thương đâu chẳng Kỳ Cùng” ( Vọng phu- Chế Lan Viên), là hình tượng đau xót  của người mẹ, người vợ ở một “ đất nước không phút nào chợp mắt/ không phút nào thôi khao khát bình yên” ( Nghe đất nước tự tình- Trần Huy Minh Phương); do vậy mà không ít thi ca than khóc cho thân phận Nàng. Nhưng Thế kỷ có cách biểu cảm riêng, dẫn kết khác. Độc giả thấy anh đến sát bên Nàng,  xót thương “ nửa kiếp hồng nhan” đã phôi pha vì chiến tranh loạn lạc, anh sờ lên mái tóc gội sương khuya, vịn vào bờ vai mòn ướt mưa ngàn; an ủi Nàng – và an ủi cho cái chạnh lòng tiềm ẩn trong chúng ta, rằng Nàng đã được tạc lên trời xanh tượng đài tình yêu bất diệt. Cũng là “ vai đá”, nhưng nó  thân thương , đồng cảm và  gần gũi hơn  “ Chỉ có cánh chim khuya bay qua vai đá của nàng/ hàng vạn vầng trăng  tròn rồi lại khuyết…”( Vọng phu –  Chế Lan Viên). Kiểu như  cách tiếp cận của lục quân  và  không quân.

Có lẽ cần nói thêm rằng: Nàng Tô Thị đã được đem nung vôi từ thời ông Bộ trưởng Văn hóa nào đó, lỗi to hơn ông Bộ trưởng năng lượng Nga Xô thời Checnôbưn – đã từ chức sau sự cố , còn ông này không hề hấn gì, vẫn ngồi viết “Sơn nữ ca” ( Tô Thị chắc chắn là sơn nữ, nhưng không ca được); Nguyễn Thế Kỷ là  đồng nghiệp văn hóa, cấp TW, lúc ấy chỉ mới là cấp phó, lại đến thăm Nàng và đề thơ – thì cũng là điều quý; dù rằng thơ anh được đề lên những mảnh ghép được gắn kết xi măng , lên nàng Tô Thị nhân tạo, thương binh.

Thế Kỷ nặng tình với bản làng  xa  xôi , ở Sìn Hồ nào đó, anh vẽ:

Pú Đao bản nhỏ chơi vơi

                                 Nhà ai neo khói bên đồi hoa mơ…

                                 Nậm Đoong chợ họp lao xao

                                 Bán mua thì ít , gửi trao thì nhiều…

                                 Một vùng non nước trời mây

                                 Ruộng bậc thang lúa vàng hây gọi mời.

                                                                                        (Sìn Hồ)

Ở bức vẽ  nhuốm màu tình cảm thương mến này , người ta thấy lại nét bút tài hoa “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi …”của Quang Dũng .

Rồi:

                                     Tà Xùa bồng bềnh mây trắng bay

                                     Lúng Ta tóc biếc suối mắt cười

                                      Điệu khèn, inh lả bên vò rượu

                                      Em bảo tình dầy rượu phải vơi…

                                      Sơn nữ Mường La đẹp lịm người.

                                                (Hội hoa ban)  

và:                    

 

                                      Vẹn nguyên lối cũ gót xưa

                                       Vẹn nguyên chín đợi mười chờ

                                       Vẹn nguyên tình đầu giang dở

                                        Gom nhặt cả điều lầm lỡ

                                       Thành men kỷ niệm chiều nay

                                        Quả dầu  chín đỏ trên cây

                                         Bỗng một ngày xanh da diết …

                                                  ( Khâu Vai)

    Người quan tâm đến văn hóa đều biết Khâu Vai, ở đó có Chợ Tình cho những ai lạc lỡ một nửa của chính mình, mỗi năm  Trời cho một lần gặp như Ngưu Lang – Chức Nữ.  Dòng xoáy cuộc đời đã  đẩy xô người ta về hai ngả khác nhau; dân Việt nghèo, dân miền cao lại càng nghèo, người ta “ bị áo cơm ghì sát đất”( Nam Cao), lại phải đóng khung  trong lệ bản luật làng , thủ thường an phận; có một ngày cho trái tim thức dậy, tình cảm dồn nén câm lặng được Vu lan, sổ lồng – là nhân văn. Đề tài  xúc động  giới thi ca, và tác giả tham góp một cách độc đáo, tinh tế: “ Quả dẫu  chín đỏ trên cây/  Bỗng một ngày xanh da diết …”, “ Gom nhặt cả điều lầm lỡ/ Thành men kỷ niệm chiều nay”.  Câu kết của bài thơ cũng  phác họa tính cách , tâm hồn tác giả: “ Khâu Vai , Người nhân hậu quá/ Nâng niu góc nhỏ âm thầm”.

Cùng tính cách đó,  âm thanh , hình ảnh nông thôn đất nước trong tai họa thiên nhiên triền miên đã neo đậu lại trong tiềm thức , không buông tha anh ngay  cả trong thời khắc Xuân sang:

Giọt này lời những ngày qua

                                     Đồng gần bão đến nương xa lũ về

                                     Thập thình trống thúc ngoài đê

                                      Trâu gầy cõng trẻ bơi về cuối thôn

                                               ( Tiếng mùa Xuân)

 

Với Hà Nội-  anh  chấm phá  chỉ với đôi nét nhưng rất tinh tế,  chỉ  những người  sống lâu  ở Thủ đô , am tường văn hóa Thủ đô   mới nắm bắt được hồn cốt này:

Hà Nội đôi khi chỉ là chút rét

                                            Tiếng rao hàng ướt đẫm sương khuya

                                            Chút dịu dàng của ai giọng nói

                                             Thành nôn nao một cõi đi về

 

                                             Hà Nội đôi khi chỉ là chút gió

                                             Mắt lá răm vành nón chấp chao

                                             Lá sấu rơi chạm mùi hoa sữa

                                             Thành bâng khuâng một cõi đi về.

                                                                                                   (Hà Nội)

Ấy là Hà Nội trong cái rét  se ngọt điển hình của xứ Bắc, tiếng rao hàng đêm của những người lao động ven đô quang gánh lần về nhẫn nại mưu sinh – khiến lòng ta  chùng xuống, se lại, như nghe tiếng Từ Quy khắc khoải trong đêm vắng. Ấy là âm thanh đặc trưng: dịu dàng , nhẹ nhàng , ngọt ngào,  âm hưởng  văn hiến nghìn năm của  cô gái Hà Thành duyên dáng dưới “vành nón  chấp chao” trong gió thoảng.  Hàng me, cây sấu; “lá sấu rơi, mùi hoa sữa”… – tất thảy  tạo nên hồn cốt Hà Nội.

 

Mảng thứ ba, là tình yêu quê hương.

Đấy là miền Trung yêu thương  mà anh luôn mặc cảm mắc nợ. Miền Trung  “xơ xác bão tràn”,  lớp lớp người thân  chôn vùi  đạn lửa:

Thân dẫu náu nương nơi xứ bắc

                                             Lòng luôn mắc nợ với miền Trung…

                                             Bao người thân ngã trong chiều đạn lửa

                                             Bao nếp nhà xơ xác bão tràn qua…

                                               Ăn miếng ngon, thu mình trong chăn ấm

                                                Mà tâm can chớp giật cuối trời.

                                                                                              (Miền Trung ơi).

Thơ về miền Trung  chắc nhiều hơn hai miền Nam Bắc, có lẽ  do đặc thù môi sinh khắc nghiệt,  “Một miền Trung đất thiếu trời thừa/ Cát/ và gió/ và mặt trời bốc lửa”, “ Ôi miền Trung cát bỏng  gió Lào/ Tôi lớn lên dưới trời cong rộp ấy” ( MiềnTrung- Đoàn Xuân Hòa),…, nên  nhiều người cảm,  thương. Nhưng dùng đến thán từ  “ Miền Trung ơi” như thế này, quả  tôi chưa thấy.

Gặp cơn mưa bất chợt, một mảnh áo tơi tơi tả, một tin bão lũ,  tình cảm thương xót, lo lắng  thường trực trong anh lại thức dậy:

Mới nắng chang chang, trời trong vắt

                                Đã mưa xối xả ngập đường đi

                                 Miền Trung cực khổ như định mệnh

                                Chỉ những tim yêu mãi xuân thì…

                                                                                       ( Bất chợt mưa).

   

                                    Nơi những chiếc áo tơi sờn rách…

                                     Ấm chè xanh đượm nghĩa xóm làng.

                                     Bão lũ đi qua như cơm bữa

                                      Bom đạn hằn sâu mỗi thớ cày

                                      Những xóm làng bao phen dời đổi..,

                                                          ( Xứ Nghệ)

                                     Năm ấy nửa đêm nghe đài báo

                                      Bão tràn lụt ngập cả đất quê

Mấy đứa đồng hương quầng mắt trũng

                                       Sông Dinh còn xanh nữa đôi bờ.

                                                         ( Cội nguồn).

 

Thương quê nghèo , bão lũ , đạn bom; lại phải “ bao phen dời đổi ” do chỉ đạo “   thay trời đổi đất, sắp đặt lại giang san ” của những đầu óc dưới tầm dân trí, anh  tự an  ủi : vẫn còn đây  sự trường tồn của văn hóa, thuộc tính  của  quê hương:

Ví dặm thành hương hỏa mang theo.

                                       Đã thương nhau sắt  son vàng đá

                                        Chọn gừng cay muối mặn gửi trao…

                                                    (Xứ Nghệ)

 

Một mảng lớn trong tình yêu quê hương  là thâm tình  đối với chốn chôn rau và gia đình.

“ Ơi ga Sy , ơi Yên Thành xứ Nghệ…- Từ Châu Âu, anh  thắc thỏm tiếng  còi tầu ga Sy, ga tàu hỏa cách nhà anh chừng 15 cây số, nơi khởi đầu cho những chuyến bay xa:

Tiếng cồi tàu đêm tha hương thảng thốt

                                      Nhớ ga Sy trong nỗi nhớ nhà…

                                       Nhớ những chuyến tầu ầm ì đêm tối

                                       Hà Nội –Sy chen chuc lợn gà…

                                              (Ga Sy)

Anh tâm tình với quê:

Quê ạ, ta như người lạc bước

                                           Giữa ồn ào phố thị bon chen

                                           Chốn phù hoa kẻ xa người lạ

                                           Vẫn sắt se góc ruộng ao làng. 

 

                                          Quê ạ, ta lắm phen lạc lõng

                                           Chốn quan trường danh lợi đỏ đen

                                          Xót mẹ yếu đồng chiêm sấp ngả

                                            Đớn đau cha máu nguộm chiến trường.

                                                 ( Tình quê).

cứ như lời thủ thỉ, ngậm ngùi  cùng  tri kỷ sau  kỳ  lang  bạt  bất đắc chí, trở về nôi êm. Dẫu chốn quan trường, phố thị ồn ào phồn hoa , vẫn cảm thấy lạc lõng, “ Vẫn sắt se góc ruộng ao làng”, “ xót mẹ yếu đồng chiêm sấp ngả”, nỗi đau cha già tái phát vết thương. Trong mạch  cảm  tình quê đó, anh không hiểu nổi  những  kẻ “ từ quê ra phố” / “ Trẻ trâu thành ông nọ bà kia” nhưng  “ quên lạc lối  về”.

Núi Gám, tiếng quê gọi là Rú Gám, là một trong ba núi cao  đã  đi vào câu ca ” Cao nhất là động Mồng Gà, thứ hai hòn Gám, thứ ba hòn Sường”, cùng với sông Dinh là hai cảnh quan hùng vỹ và thơ mộng của vựa lúa Yên Thành- thường hiển hiện trong thơ văn Nguyễn Thế Kỷ:

                                          Bến bờ nào cũng dội sóng sông Dinh

                                          Xa ngái chi cũng mơ về rú Gám…

                                          Mùi chua của bùn, vị nồng của đất

                                          Với  cha, quý hơn cả bạc vàng.

                                                       (Quê mình)

                                            Quê ạ, có dòng sông ký ức

                                             Cứ duyềnh  lên kỷ niệm xanh xa…

                                             Ngay cả khi về cùng cát bụi

                                            Hóa dòng sông thao thiết rộng dài .

                                                    ( Tình quê)

                                             Năm ấy chuyến tàu ra xứ Bắc

                                             Mắt nhòa núi Gám phía sau lưng

                                              Sóng lúa mặn mòi tình mẹ hát

                                              Đi mô cũng Rộc , Vẹo , Yên Thành.

                                                     (Cội nguồn).

     Rộc , Vẹo trong bài thơ  là hai địa danh đã  đi vào văn học sử , ở đấy có hai cái chợ cổ điển cùng tên  và  là làng nghề nồi đất nổi tiếng,  sản phẩm  tới tận bây giờ vẫn lưu thông tới cả Cao Bắc Lạng, bằng ..xe đạp thồ, đẩy bộ. Núi Gám  bước chân xuống đồng bằng , đứng   sừng sững phía sau nhà Thế Kỷ, sông Dinh hiền hòa chảy qua làng-  mọi thứ cứ “ duyềnh lên kỷ niệm”.

Anh nguyện khi về đất sẽ “ Hóa dòng sông thao thiết”; lời anh: “quý hơn cả bạc vàng” cái “ mùi chua của bùn, vị nồng của đất ” – không phải là ngoa ngữ.

Gia đình- trong tâm hồn nhà thơ là một mảng in đậm.

Thân phụ ông là “ Quan huyện”, là Chủ tịch huyện nhiều năm liên tục:

Cha tiếng là “quan huyện”

                                 Nhà hết gạo chạy quanh…

                                         (Mẹ)

Ông là thương binh chống Pháp:

Lòng cha mấy nẻo chiến trường

                                  Hòa Bình , Nghĩa Lộ… trọng thương máu tràn.

 

                                      Tuyên quang ngày tháng gian nan

                                  Trại thương binh với muôn vàn đớn đau

                                          Thuốc men nào có gì đâu

                                  Nửa viên hạ sốt nhường nhau mấy người.

                                               (Nhớ cha).

Khi rời viện, với một chân cao một  thấp , ông phục viên  về xây dựng quê hương  và chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ :

Những năm đánh Mỹ gian nan

                                Bước chân cao thấp non ngàn đồng sâu

                                   Cha cùng đồng chí, đồng bào

                                 Chung lưng đấu cật xây bao công trình.

 

                                   Núi cằn cây đã lên xanh

                                  Mấy mươi hồ đạp mát lành đất quê…

                                                        (Nhớ cha).

 “ Bước chân cao thấp”- bao gồm cả nghĩa đen, nghĩa bóng. Ông đã lặn lội  khắp nẻo huyện nhà nghèo khó, bằng chiếc xe đạp cà tàng “ Nhớ cha những tháng những ngày/ Áo sờn, xe đạp, đường lầy, hố bom” , xây dựng  mấy chục cái đập nước lớn nhỏ,  nhờ vậy mà nửa huyện vùng cao đã chủ động thủy lợi gieo trồng; cùng với thành tích chiến đấu và phục vụ tiền tuyến,  huỵện được phong  tặng  Đơn vị Anh hùng: “ Rạng danh đơn vị Anh hùng/ Có công cha giữa chiến công chung này ”.

Và chính trong thời điểm “Sau lưng sừng sững cơ đồ”, ông đã “ Công danh nhẹ phủi , cha về quê hương / Nuôi mẹ ốm, chăm ruộng vườn/ Nặng vai họ tộc , cột rường gia phong”.

Chắc anh đã mực hòa nước mắt:

Mẹ về nước nhược non bồng

                                  Cha thay tình mẹ vun trồng trúc mai

                                      Thương cha mấy vạn đêm dài

                                  Đơn côi cùng nỗi u hoài nước non.

 

                                        Cha đi , xa xót cháu con

                                Đạo thần hôn, chửa vuông tròn, cha ơi!                            

( Cha ơi) .

Tôi ngẫu nhiên được biết ông rất sớm, năm 1965, trong ngữ cảnh bi thương. Lúc đó, bác họ tôi là Trưởng phòng lương thực- thực phẩm của huyện, ông là Chủ tịch. Hai ông đi xe đạp lên đường vận động lương thực thực phẩm cho chiến trường . Đến  cầu Điển trên đường 33,  gặp máy bay Mỹ phá cầu. Bác tôi ở đầu cầu  bên kia cầu,  trúng mảnh , hy sinh. Ông ở đầu cầu bên này, thoát nạn. Sau này, ông chỉ đạo xây dựng đập nước, rất chú trọng xã tôi- một xã bán trung du, nhiều hồ đập phôi thai- nên thường về “ nằm vùng” ở đó cả tháng. Là người đôn hậu, công tâm và tinh tế, nên dân vùng tôi rất kính quý. Tôi còn nhớ có lần, một nông dân thường hay phá bĩnh, nói ngang , đã vặn vẹo ông:  “Bác Tờn ơi, đi cày là cái thằng khốn khổ nhất, đít nhọ,  mạt hạng nhất phải không”/ “ Chú nói vậy là xúc phạm  giai cấp, xúc phạm mình , Bác Hồ  dạy:lao động mọi nghề đều vinh quang”/  Thế thì tại sao cán bộ bị kỷ luật, họ toàn tống về đi cày?” . Ông vẫy cậu này ra chỗ khác, mở túi dết, lấy 5 viên đá lửa, gói lại và cho cậu ta; từ đấy, cái loa bông phèng ấy mất điện. Một kỷ niệm khác: tôi đến thăm cụ vào dịp tết, trong đám khách có Phan Thanh Hải, người viết tác phẩm “ Một nền chính trị ngoại tình”. Chúng tôi đề nghị Thanh Hải tóm lược nội dung cuốn sách. Thanh Hải nói được năm  mười câu thì cụ bỏ bàn trà, ra đứng ngoài sân.

Thân phụ Thế kỷ, như tôi biết, là một người cộng sản lũy thừa ba. Phần còn lại, phần  thơ trên của người con đã lột tả , thiết nghĩ không cần luận thêm.

Bài thơ “ Mẹ”  về Thân mẫu tác giả  gây nhiều xúc động.

                                               Mẹ rửa ấm lau nồi

                                               Đồ đất nung nhiều nhất

                                               Mua xoong nhôm, áp suất 

                                               Mẹ gác bếp để dành  …

   

                                                 Buổi sáng mẹ thợ cấy

                                                 Buổi chiều mẹ thợ cày

                                                 Cha tiếng là “ quân huyện

                                                  Nhà hết gạo chạy quanh

 

                                                  Nhớ mấy làn say sắn

                                                 Ói mật vàng mật xanh

                                                   Mẹ ôm con ve vuốt

                                                  Tý nữa thành cỏ xanh

 

                                                  Bây giờ về thăm mẹ

                                                   Di ảnh khói hương  bay

                                                   Nhà mình nay đã khá

                                                   Càng thương mẹ những ngày…

 

     Hình bóng  về người mẹ  tần tảo , “ xong nhôm ,áp suất- gác bếp để dành”, đảm đang “ buổi sáng thợ cấy- buổi chiều thợ cày”,  nghèo khó : chồng “ tiếng là  “quan huyện”/ Nhà hết gạo chạy quanh”, con “ mấy lần say sắn/ Ói  mật vàng mật xanh”- là hình ảnh xót thương khắc chạm  vào  trái tim người con đẻ và   mọi người con hiếu; cuộc sống càng đi lên, vết khắc càng sâu đậm, “ càng thương mẹ những ngày…”.

Hình tượng  người dì ruột trong bài “ Bên mộ dì” gây xúc động  đặc biệt cho người đọc .  Cộng hưởng với âm hưởng bài thơ “Mẹ”,  nhiều người đã tháo mục kỉnh, lau mắt :

                                    Là chị cả mấy người em

                                    Mẹ em đã khổ dì còn cực hơn

                                    Lấy chồng chưa kịp giận hờn

                                    Dượng vào bộ đội nước non… không về

                                    Kể từ dạo ấy đất quê

                                     Dì như chiếc bóng đi về mặc ai

                                     Đêm đêm nén tiếng thở dài

                                     Ngày ngày vạt lúa,  ruộng khoai lũi lầm…

Dì và muôn vạn phụ nữ Việt Nam bất hạnh ,  đến  thân phận Vọng Phu cũng không thể làm . Sống  như chiếc bóng,  ngày ngày vạt lúa , ruộng khoai,  đêm đêm nén tiếng thở dài… – là xác sống.  Sự tồn tại là bản năng thiên chức của người làm mẹ, để các con “ bấm chân rau cháo lần hồi bước đi”  .

Cái xác sống ấy vẫn bị “áo cơm ghì sát đất”, ngoi ngóp tồn tại; chốn nương tựa, niềm an ủi duy nhất là tình máu mủ , gia phong đằng ngoại , “ chị em con chấy thương  nhau” :

Bao nhiêu vết sẹo tay dì                                          

                                          Bấy nhiêu xa xót mỗi khi ấp vào

                                          Chị em con chấy thương nhau

                                          Quả cà, mớ tép , cọng rau sớm chiều

                                           No chẳng mấy, đói thì nhiều

                                          Tấm lòng thơm thảo, thương yêu vô bờ

                                           Con đi qua tuổi ấu thơ

                                           Uống bầu sữa mẹ, ầu ơ lời dì…

Âm hưởng xót xa  đồng vọng lại , “ Có nơi đâu trên trái đất này/ Như Việt Nam đắng cay đau khổ…  ”,  “ Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”…

Cũng là âm hưởng  phần kết  của bài thơ -lời ai vãn,  và là cách giải thoát (?):

Hôm nay bên mộ, dì ơi

                                          Con xin lạy giữa đất trời , âm dương

                                          Xanh cao nếu có thiên đường

                                           Dì tôi xứng đáng mười phương Niết Bàn .

Kết thúc phần này, chúng ta cùng khám phá thêm tâm tưởng tác giả qua bài thơ Vu lan , viết gần đây, ở cuối tập thơ:

Sau những núi non kia là tiên tổ

                                    Là mẹ cha đã nước nhược,  non bồng

                                    Mùa Vu lan dẫu muôn vàn hương khói

                                     Có bay về tới cõi hư không.

 

Qua bài “thơ kết ” này cùng với  cả  tập thơ, độc  giả dễ nhận thấy  tác giả là người con  hiếu của quê hương , chí hiếu của gia đình, người ông hiền hòa quý mến của các cháu. Ở đời thường, bạn bè thân hữu đồng nghiệp và  kể cả các mối quan hệ cũng dễ nhận ra điều đó. Tôi được chứng kiến nhiều lần, những tháng ngày cuối cùng của  thân phụ tác giả . Anh thường trực ngồi xếp bằng trên giường, bên cạnh cụ; xoa bóp , ve vuốt, nhìn cha đầy thương xót; khách đến thăm, anh đều ra gặp xã giao, chỉ  vài phút, rồi nói: “ Xin ngồi chơi uống nước ngoài này . Hãy thông cảm cho tôi được bên Cụ thêm  phút nào hay phút đó !”.

Nhà anh ở quê còn lưu giữ trân trọng mọi kỷ vật của thân sinh, như một bảo tàng, trong đó có chiếc xe đạp cà tàng, còn biển số đăng ký xe  , đã nói ở trên.

                                                                   *

     Mỗi năm, chúng ta  sản xuất hàng vài ngàn tập thơ, hầu hết là mĩ học nông nghiệp. Ở khối lượng khổng lồ này, nội dung của nó thường  nặng tính ước lệ,  gây cảm nhận  “ biết rồi khổ lắm nói mãi” cho độc giả. Thơ ở mĩ học hiện đại  gắn với  vòng xoáy  vận động của xã hội  và tiềm ẩn nhiều bất trắc- nên hầu khắp  tác gia lẫn  nhà bình luận chọn cách ở yên trong ngôi nhà truyền thống của mình. Có một danh ngôn : “ xét cho cùng, mọi tai họa của con người bắt đầu từ chỗ họ không chịu ở yên trong ngôi nhà của họ”, nhưng  tác giả của Về lại triền sông là một trong số ít tác gia, đồng thời  ‘nâng cấp” mĩ học truyền thống  đã  “ dám” hé cửa mĩ học hiện đại.

Là người phụ trách lĩnh vực phê bình văn học Quốc gia, anh biết rõ hơn người  về trách nhiệm của người viết trước sự biến động , sôi động của cuộc sống xã hội hiện tại, về sự chuyển động nhanh, mạnh của thi ca Thế giới. Thi ca đang vướng kẹt ở quê , một cách  cố ý ,vì sự an nhiên; mỹ học nông nghiệp đang đóng cửa mĩ học hiện đại. Có lẽ vì thế mà  trong Về lại triền sông  – là “hồi ký trái  tim”  của anh, lẽ ra  và đương nhiên là nó phải được thể hiện toàn bộ qua  mỹ học nông nghiệp, nhưng đã có hiện diện của mỹ học hiện đại, dù chỉ ở mức hé mở.

Mĩ học hiện  đại được thể hiện ở phần đầu tập thơ. Đó là sự day dứt , trăn trở trước  một trong hai vấn đề  nổi cộm, lù lù trước mắt của dân tộc: nạn ngoại xâm ; nạn kia là nội xâm, tên khác của tham nhũng. Anh nhắc lại hình tượng bạt ngàn các nghĩa trang, đến xương máu không thể đo đếm- dù thước đo là dãy Trường Sơn , nước Cửu Long ,Hồng Hà; cảnh “ xác cha giặc kéo bầm thân lộ”,  xác bạn bè đồng chí dưới đáy sông,  “ màu hoa tím đỏ như màu máu”,  rằng “  Rồng Tiên thủa ấy sinh thành Trường  Sa ” … để ai ai cũng phải thấy rằng,  đất đai Tổ quốc là xương  máu Tổ tiên nước Việt, “ Các vua Hùng  đã có công dựng nước, bác cháu ta phải giữ lấy nước” ( Hồ Chí Minh); không một kẻ nào được phép  vô lương, vô trách nhiệm trước nghĩa vụ thiêng liêng đó. Xa hơn một bước, anh bày tỏ  tâm trạng trăn trở, lo lắng  trước vận mạng  của Tổ quốc, mà biên cương -hải đảo là  một phần máu thịt “Ôi Tổ quốc , biên cương chưa yên giấc / Đêm quặn lòng máu thịt Hoàng Sa  Ngày đỏ mắt Trường Sa giông bão/  Lại bút, gươm giữ cõi, xây nhà”  (Tổ quốc). Những  đóng góp này góp phần gieo vào độc giả tâm thức “ Tôi lắng nghe Tổ quốc gọi tên mình”- và chỉ đến thế.  Chưa đến mức “ Đêm nằm mơ biển Đông  hộc máu…” “ Ôm lá cờ rách nát vẫn còn đi…” ,“ Họ là ai mà ác hơn quỷ dữ …”, “ Ôi cha ông ta bao phen thắng xâm lược/ Có buồn không sinh ra lũ đê hèn…” (Nguyễn Trọng Tạo), nhưng cũng đã là hé mở, là  quý hiếm đối với ngữ cảnh một tác gia  hai vai còn gánh việc sơn hà. Áp vào “tiêu chí ” người cầm bút của  Alecxandre Mercereau – được nêu ra tại ở Đại hội nhà văn lần IX : “ Làm cho hạt giống nảy mầm trong tâm hồn, đơm bông, kết quả, làm nảy nở bản năng thành cảm giác, cảm giác thành tư tưởng , tư tưởng thành đường lối xử thế … đấy là một thiên chức của người cầm but” – thì mầm gieo cũng đã  phát triển  gần đến đoạn cuối.

*

Để kết thúc bài viết, xin điểm  xuyết  thêm chút xíu về nghệ thuật tác phẩm.

Ở đây ta gặp không ít những câu thơ hay, tinh tế: “ Quả dầu chín đỏ trên cây/ Bỗng một ngày xanh tha thiết”, “ Đàn xuân giọt giọt bên thềm/Thơm từng nốt nhạc hương đêm vườn nhà”,  “Có ai biết lặng thầm sau giọt nắng/ Ta lại về chắn nẻo đông sang”, “ Đã thương nhau  sắt  son vàng đá/ Chọn gừng cay muối mặn trao nhau”, “ Bến bờ nào cũng dội sóng sông Dinh/ Xa ngái chi cũng mơ về rú Gám”…

Phần thơ được phổ nhạc của tác phẩm cũng có nét độc đáo. Được viết độc lập và ngẫu nhiên –Lời mở đầu– bởi nhiều nhạc sỹ khác nhau , hoàn toàn không phải theo “ đơn đặt hàng”, nhưng  hầu hết các tác phẩm nhạc đều ở nhịp hành khúc (4/4, C). Giai điệu của các ca khúc đều là giai điệu trữ tình, hướng nội, dễ đi vào lòng người nghe.

Mỗi minh họa trong tác phẩm  đều là những tác phẩm hội họa thực sự, khán giả thấy được bút pháp tài danh của họa sỹ, sự hội tụ của Picatxô và Vangốc- phong cách hiện đại, gam mầu mạnh, có hồn cốt; bố cục chặt, đường nét phóng khoáng,  phá cách, tài hoa- tất cả đều  có thể đem triển lãm hoặc tự leo lên  tường.

Về lại triền sông là một tập thơ đẹp cả nội dung lẫn hình thức,  là món quà phi vật thể cho quê hương xứ sở từ  tấm lòng  hiếu nghĩa , trách nhiệm,  từ tâm hồn thanh khiết  của một người con.

V.V.H, Tháng X/2017

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*