Home » Bài của bạn » “ĐAU THƯƠNG” – CÕI THƠ ĐIÊN CỦA MỘT NGƯỜI RẤT TỈNH

“ĐAU THƯƠNG” – CÕI THƠ ĐIÊN CỦA MỘT NGƯỜI RẤT TỈNH

Thi sĩ Hàn Mặc Tử - Ký họa của Tạ Tỵ

Thi sĩ Hàn Mặc Tử – Ký họa của Tạ Tỵ

HẢI SINH

Nói đến Hàn Mặc Tử là nói đến nhà thơ lạ nhất của Phong trào Thơ Mới, người “cai trị Trường thơ Loạn của các nhà thơ Bình Định”. Nói đến thơ ông, người ta nhớ đến thơ Cổ điển trong Lệ Thanh thi tập, thơ Lãng mạn trong Gái quê… nhưng, hơn tất cả là nhớ đến Thơ Điên trong Đau thương. Có thể nói chính Thơ Điên chứ không phải gì khác là phần đặc sắc nhất đã làm nên cái “lạ” kia, làm nên tên tuổi và ngôi vị Hàn Mặc Tử.

Bệnh hủi và những cuộc tình mộng tưởng, cuộc tình tan vỡ đã đưa chàng thi sĩ trẻ tuổi của chúng ta trải nghiệm đến tận cùng nỗi đau của nhân gian. Đó là điều không may nhất của đời người nhưng lại là một phúc ân lớn với chàng thi sĩ này. Đau thương đã thấu nhập, chiếm lĩnh và bật lên thành xương tuỷ của hồn thơ. Nó bộc lộ thành những thi ảnh kì dị, âm điệu của tiếng gào, tiếng thét, tiếng rú và một lớp ngôn từ cực tả trong dạng thức độc đáo của sáng tạo – “thơ Điên”. Trong trường hợp ấy, con người “siêu thức” xuất hiện như một lẽ tự nhiên, một cứu cánh nâng Hàn Mặc Tử vượt thoát khỏi những cái tầm thường, mực thước để đến với một vũ trụ vẫn còn nhiều bí ẩn của “Linh Hồn Thanh Khiết”.

Trong lời tựa “Điêu tàn” – vẫn được xem là bản tuyên ngôn chung của Trường Thơ Loạn mà Hàn Mặc Tử là “kẻ cai trị”- có viết: “Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tuỷ là tuỷ. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem so sánh nó với Người, và chê nó là giả dối, không chân thật. Vâng! Nó không chân thật, nó giả dối với Người. Với nó, cái gì nó nói đều có cả“. Cái gì nó nói đều có cả đó là nguyên tắc chân thật, nguyên tắc lớn nhất của một người đã thức tỉnh ở chiều cao tâm linh với nguyên lý tỉnh mà không biết mình tỉnh (theo S.Freud”). Bằng nghiên cứu phân tâm học, Freud đã chứng minh được vai trò của cái vô thức với sáng tạo, nhất là với sáng tạo nghệ thuật. Theo đó, đối với người nghệ sĩ lúc sáng tác là lúc tỉnh táo nhất, chân thật nhất với chính bản thân mình và với cả độc giả. Chân thật với bản thân mình là chân thật cao nhất, khó nhất và tỉnh táo nhất. Vì vậy, thơ Điên là hình thức tỉnh táo nhất của con người thi sĩ Hàn. Đó là lúc ý thức như mờ đi, lùi lại phía sau, nhường phần lớn quyền điều hành quy trình sáng tạo cho tiềm thức, vô thức, đặc biệt là siêu thức.

Trước tiên là chân thật với chính cảm xúc của mình. Nguồn cảm xúc tìm thấy trong hình thức thơ Điên chính là Đau Thương. Những Đau đớn thân xác, với một cơ chế nào đấy, chuyển hoá sang địa hạt tinh thần, hoá thân vào nỗi Đau khổ tinh thần và cất lên thành thơ.

Về bản chất, Đau thương ở Hàn Mặc Tử là một niềm tuyệt vọng lớn. Cho nên trong thơ Hàn, ta có thể cảm nghe được cả một thế giới bên trong vô hình đang lâm vào tuyệt vọng qua những tiếng rên rỉ rớm máu của thân xác bên ngoài. Cho nên đó cũng chính là cái nỗi cô đơn đặc biệt: nỗi cô đơn quá tải. Vậy là, Đau thương ở Hàn là một thứ siêu nghiệm. Đau thương vừa là dạng thức vừa là cung bậc của cảm xúc thơ thường trực trong hồn thơ Hàn Mặc Tử. Điên chính là sự hiện hình, sự cất tiếng chân thành nhất, tỉnh táo nhất của Đau thương.

Chế Lan Viên – một thi hữu của Hàn – ngay từ đầu đã tiền hô hậu ủng, và đến khi viết giới thiệu cho Tuyển tập của người tri kỉ xấu số, vẫn giữ vững ý kiến bênh vực sắc bén của mình. Ông dẫn ra một tiếng thơ có một vẻ rất “điên”, và chỉ ra yếu tố nào đã đem lại sức sống chân chính cho nó: “Chúng ta cần có người tả trăng là trăng. Nhưng cũng cần có người vượt lề thói tập đoàn mà xẻ trăng làm hai nửa (…) Cần truyền thống nhưng cũng cần biến dị, cần nói những điều chưa ai nói (…) Hôm nay có một nửa trăng thôi / Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/… Không phải ma thuật, kĩ thuật gì của óc đang lạm phát ngôn từ. Lòng có bị cắn đôi, đời có bị tan vỡ, tình có bị đứt đoạn, nghĩa là có một thảm sử gì làm trữ kim, làm đảm bảo, thì mới có thể phát ra những từ ấy.” Hàn Mặc Tử “điên” như thế đấy và cũng tỉnh như thế đấy.

Nhờ thứ trữ kim này người ta chẳng những thấy được cái lí của những hình thức kì dị, quá xa lạ, mà còn xuyên qua rào cản của những cảm giác kinh dị để nhận chân những nỗi niềm thơ chân chính của thi nhân. Thơ Điên vì thế là tiếng kêu rỏ máu của con chim sắp lìa trần, là tiếng nói của những hụt hẫng tan hoang, là tiếng nói của một thân phận bị dồn đẩy đến miệng vực của nỗi chết, chới với bên miệng vực ấy mà ngoái nhìn đời, nuối đời, níu đời. Mỗi tiếng thơ khác nào một lời nguyện cuối, một lời tuyệt mệnh. “Tôi còn trìu mến biết bao người / Vẻ đẹp xa hoa của một trời/ Đầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọng/ Đây giờ hấp hối sắp chia phôi”, “Ta trút linh hồn giữa phút đây/ Gió sầu vô hạn nuối trong cây/ Còn em sao chẳng hay gì cả/ Xin để tang anh đến vạn ngày“… Cảm xúc chia lìa vĩnh biệt luôn choán ngợp cõi lòng, vò xé tâm can. “Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt.”, “Than ôi ! Hỡi biệt li chan chứa/ Tưởng cùng em vui hưởng thú tiêu dao/ Anh sắp đi và hai hàng lệ ứa/ Cả đau thương dồn dập xót tâm bào”,… Bước vào Thơ Điên là bước vào cái thế giới quằn quại của tinh thần. Nó là biểu hiện của những giằng xé quyết liệt giữa bóng tối của Bệnh tật, Chết chóc, Ma quỉ với ánh sáng của Tình Yêu, Sự Sống, Thần Thánh… giữa Địa Ngục hắc ám với Thiên Đường quang minh…

Đau Thương của Thơ Điên cất lên từ thân phận thảm sử của Hàn Mặc Tử. Không có cái căn cốt là giá máu mà Hàn đã đánh đổi cho mỗi tiếng thơ của mình thì chưa chắc Thơ Điên đã đi xa hơn việc chạy theo một cái mốt tân kì để có thể làm rớm máu tâm can người đọc ở tận thế kỉ này. Và Đau thương đã tự tìm đến những hình thức của nó theo kiểu Hàn Mặc Tử.

Trong thơ trữ tình, việc chủ thể phân thân, hoá thân vào các đối tượng hết sức khác nhau để cất lên những tiếng nói trữ tình phong phú khác lạ không còn là điều xa lạ nữa. Ở thơ Điên, sự phân li của chủ thể ở đây không theo lối tuyến tính mà theo lối đồng hiện: một xác thân nhiều nhân cách. Toàn những “nhân cách” phản trái nhau. Một chủ thể sinh hoá màu nhiệm kì khôi – Cả một miệng ta trăng là trăng/ Cả lòng ta vô số gái hồng nhan/ Ta nhả ra đây một nàng/ Cho mây lặng lờ cho nước ngất ngây… Mỗi mảnh vừa là một phân thân của Cái Tôi kia lại vừa là một cái Tôi khác tự lập – Kìa ai gánh máu đi trên tuyết/ Với lại ai ngồi khít cạnh tôi/ Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng/ Không nói không rằng nín cả hơi… Xác thân là một Tôi, Hồn lại tách ra thành một Tôi khác, đùa cợt, rượt đuổi, trêu tròng nhau, thậm chí thôn tính lẫn nhau – Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng… / áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng/ Hồn đã cấu đã cào nhai ngấu nghiến… Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay/ Hồn mệt lả còn tôi thì chết giấc, Ôi điên cuồng! Ôi rồ dại! rồ dại/ Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta… Việc tạo ra kiểu chủ thể này ít nhiều thấy cả trong thơ Bích Khê, Chế Lan Viên, Hoàng Diệp, Xuân Khai… Và người ta cho rằng Văn hoá Chàm cùng với những bóng ma Hời phổ biến ở vùng thành Đồ Bàn đã nhập vào thế giới thi ca của Trường Thơ Loạn kia. Điều này có lẽ có thực. Song ở Hàn Mặc Tử, cái ngoại nhập mờ hơn cái nội sinh. Chính đời sống thực thể đặc biệt của Hàn Mặc Tử, nhất là ở giai đoạn sau, lúc nào cũng chập chờn bất định giữa Thực tại và Chiêm bao, lại có lúc cận kề cái chết hay xuất hồn siêu thăng vào cõi khác, là cái vốn nội sinh đã đồng hoá những ngoại nhập đó thành cái chủ thể sinh hoá kì dị này. Nó cũng là một thứ siêu nghiệm mà chỉ những người như Hàn Mặc Tử mới trải qua. Và, không có cái chủ thể sinh hoá một xác thân nhiều nhân cách quái đản ấy làm sao có chủ thể Thơ Điên? Người làm thơ không tỉnh thì làm sao viết được thơ như thế. Chỉ có điều người đó tỉnh mà không biết mình tỉnh.

Nếu không có kênh hình ảnh này, chưa chắc “Đau thương” đã phải là Thơ Điên. Cũng vì thế, ai đã đọc Thơ Điên, không thể không thấy vẻ kì dị, kinh dị tràn ngập ở đó. Người này thấy Hàn hay nói đến sự rơi rụng, tàn rữa của thân xác. Người khác thấy Hàn thường chuyển vô số cảm nhận thuộc các giác quan khác về một khí quan là cái miệng với những động thái ăn, nuốt, đớp, nhả, mửa, khạc… vốn rất kị giơ với thi ca truyền thống. Nhất là ai cũng đã từng bị choáng váng trước những vẻ kinh dị hãi hùng của Trăng – Hồn- Máu. Không ít người gọi đó là vẻ đẹp kì dị: “… Tôi toan hớp cả váng trời / Tôi toan đớp cả miếng cười trong khe”, “Ta cắn lời thơ để máu trào”, “Ta há miệng cho hồn thơ trào vọt”, “Cười no nê sặc sụa cả mùi trăng”, “Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng”, “Hồn vội mớm cho tôi muôn ánh sáng”, “Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa/ Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô/ Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra…”. Đó là cả một cuộc nổi loạn trong cảm giác của thi ca. Với những vẻ kinh dị này, Thơ Điên đã xé rào để tìm kiếm cho thơ những miền cảm giác mới – cảm giác mạnh, đẩy cái kinh dị đến tột cùng. Dù nó có phần xa lạ với Người.

Vẻ kinh dị trong thơ Hàn Mặc Tử không quá xa lạ. Người ta đã từng tiếp nhận cái kì ảo trong truyền thống ở những chuyện ma quỉ dân gian, ở những “Lĩnh Nam chích quái”, “Việt điện u linh”, “Truyền kì mạn lục”, cả đây đó trong “Truyện Kiều”… của Ta và “Liêu trai chí dị” của Tàu. Và đương thời Hàn cũng không phải là hiếm đồng minh trên con đường phiêu lưu vào thế giới của cái kinh dị. Ngoài những thi hữu thân cận, có thể thấy cả Thế Lữ, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển, v.v… Đến lượt mình, Hàn Mặc Tử và các thành viên của trường thơ Loạn cũng tìm thi hứng và nói rất thoải mái đến những xác chết, sọ dừa, đầu lâu, mồ hoang, giếng loạn, xương khô, sự trần truồng, sự dâm đãng… Tuy nhiên, trong khi các thi hữu của mình như Chế Lan Viên, Bích Khê nghiêng về sự tuân thủ những quan niệm lí thuyết, a là tuân theo những mô thức do họ phác ra từ trước, thì riêng Hàn Mặc Tử lại có một đời sống thực thể rất gần với cái thế giới kinh dị đó. Ông thường xuyên rơi vào tình trạng cô đơn tuyệt đối, tinh thần bị vây khốn giữa một cõi sống đơn độc, luôn bị ám ảnh bởi nỗi chết của riêng mình và dường như lúc nào cũng có thể cảm thấy mười mươi cái bóng đen đúa, cái âm khí lạnh ngắt cùng đôi mắt rùng rợn của tử thần, cho nên tinh thần của thi sĩ luôn lạc giữa cái trùng vây của những biểu tượng kinh loạn nhất của thế giới khác. a là bản thân cõi tinh thần của Tử đã là kinh dị. Nhưng ở “Đau thương” ta còn thấy cả một thái cực hình ảnh khác nữa – những hình ảnh lộng lẫy, thơ mộng. Riêng Trăng đã có “Trăng tự tử”, “Trăng ngã ngửa vỡ tan thành vũng đọng vàng khô”, “Trăng sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu”… nhưng cũng có “Trăng vàng, trăng ngọc“, có “Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ/ Đầy mình lốm đốm những hào quang“, có “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay“… Đây là “chút lòng ưu ái cũ” với vẻ đẹp đời thường chăng? Đó là giây phút tĩnh lặng, ngấm sâu, ẩn nấp của cái kinh dị ư? Chỉ chắc chắn một điều rằng chính nó làm nên vẻ huyền diệu, âm u và hấp dẫn của thơ Hàn.

 Không ít người nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử đã cảm nhận được một vẻ “kì cục” ở đôi bài là mạch thơ “cóc nhảy”, “đầu Ngô mình Sở”. Trước hết là từ kiểu tư duy đặc biệt của Tử, mà Hoàng Ngọc Hiến gọi bằng “siêu thức”. Trong một trạng thái như thế, lí trí và ý chí của thi sĩ không thể nắm vai trò áp đặt cái quyền lực lôgic thông thường như tứ thơ hay cốt truyện thì những sản phẩm thơ của Hàn Mặc Tử sao có thể tuân theo một lôgic thông thường. Cố nhiên, để nó vẫn là thơ chứ không phải là một mớ chữ hỗn loạn, tất phải có một lôgic riêng.

Mỗi bài thơ của Hàn thường hiện ra như một dòng tâm tư bất định: tình điệu liên tục chuyển vần, hình tượng liên tục chuyển “kênh”. Bước vào mỗi bài thơ Hàn Mặc Tử, người đọc không khỏi có cảm giác phân tâm: trí dường như ngơ ngác không theo kịp mạch vận động bất định của các hình ảnh, nhưng lòng lập tức bị xâm chiếm, bị cuốn đi bởi cảm xúc đau thương với những sắc điệu cung bậc khác nhau, khi thì tràn trề, khi thì ẩn kín đằng sau những hình ảnh ấy. Phi lôgic ở bề mặt, nguyên phiến, nguyên điệu ở bề sâu, đó chính là Siêu lôgic – nét thi pháp thơ Điên điển hình của “Đây thôn Vĩ Dạ”. Chỉ đơn cử ở khổ thơ thứ hai:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.”

Những cảnh vật thiên nhiên thường gắn kết không bao giờ tách rời mà ở đây lại tách nhau ra, đi theo đường riêng. Gió theo đường của gió. Mây theo đường của mây. Hoa bắp lay theo đường hoa bắp bỏ mặc dòng nước buồn trong im lặng, không một gì soi bóng. Thuyền cũng lìa với người. Trăng chưa chắc đã về với tối nay. Nhưng tất cả lại thống nhất, liên đới với nhau trong nỗi buồn đau chia ly, tan tác.

Thơ Điên có một lớp ngôn từ cực tả, không giống ai. Thơ Điên đã dung chứa trong nó một lớp ngôn từ đối nghịch gay gắt. Có cả những tiếng rên siết thê thiết của một xác thân bị dày vò tàn huỷ: “Trời hỡi làm sao cho khỏi đói / Gió trăng có sẵn làm sao ăn”; “Trời hỡi bao giờ tôi chết đi”… Dễ hiểu vì thi sĩ Thơ Điên này chủ trương rằng: “không rên siết là thơ vô nghĩa lí“.

“Đau thương” là cõi thơ Điên được xây dựng bằng trải nghiệm cá nhân trong sáng tạo từ những bất hạnh riêng của thân phận thi sĩ. Nó là sản phẩm của một sự khủng hoảng và một khát khao, một nỗ lực sáng tạo. Chúng ta đều biết Thơ Mới là tiếng nói trữ tình của Cái Tôi cá nhân. Thế giới Cá nhân là một phát kiến mới mẻ. Nếu Thơ Mới là hành trình đi mãi vào địa hạt của Cái Tôi, thì Thơ Điên đã đi tới hang cùng ngõ hẻm Cái Tôi cá nhân và ở đó nó bắt gặp và hoà nhập vào một cái vô thức, siêu thức của nhân loại. Nếu Thơ Mới là nỗi Cô đơn của con Người, thì Thơ Điên là cái trạng thái chót cùng hoàn toàn quá tải của Cô đơn – ấy là Đau thương, là Tình yêu tuyệt vọng. Nếu Thơ Mới thể hiện một nguồn sống mãnh liệt của Cá nhân, thì Thơ Điên muốn tìm tới dạng thức tột cùng của sự mãnh liệt ấy- mãnh liệt đến cuồng dại. a là đa phần Thơ Mới là Kinh nghiệm còn thơ Điên muốn tới một thứ Siêu nghiệm. Thơ Điên vừa giống vừa không giống với những gì đã có. Điều ấy xác định đóng góp độc đáo của Hàn Mặc Tử cho nền thi ca của chúng ta – một cõi thơ Điên của người thơ rất tỉnh, tỉnh mà không biết mình tỉnh./.

One thought on ““ĐAU THƯƠNG” – CÕI THƠ ĐIÊN CỦA MỘT NGƯỜI RẤT TỈNH

  1. Việt Anh nói:

    rất ấn tượng về những bài thơ về tình yêu của Hàn Mặc Tử, có cái gì đó mới, lạ so với những nhà thơ khác.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*