Home » Bài của bạn » TRỊNH SƠN VÀ NHỮNG LỚP SÓNG NGÔN TỪ

TRỊNH SƠN VÀ NHỮNG LỚP SÓNG NGÔN TỪ

YẾN THANH

trinhson-biaTrịnh Sơn đến với văn đàn trước tiên qua thơ, nhưng ngay từ trong thơ, chất văn xuôi của anh đã hiện lên khá rõ nét với dung lượng hiện thực rộng lớn, thể loại thơ văn xuôi, mang kết cấu đa tầng bậc, tính truyện và chất tự sự đã thể hiện khá rõ. Ngay từ tập thơ đầu tay của Trịnh Sơn, tôi đã dự cảm phần nào chúng ta sẽ còn gặp lại anh trong văn xuôi. Và quả thật, “cuộc gặp gỡ” văn chương này đã sớm diễn ra khi anh cho xuất bản tập truyện đầu tay của mình với tựa đề Gieo mồi vào sóng.

1. Thân phận làm người

Đọc Gieo mồi vào sóng, có thể thấy âm hưởng về giọng điệu chung của cả tập truyện ngắn là xót xa và cay đắng cho thân phận con người hậu hiện đại. Mỗi truyện của Trịnh Sơn là một mảnh ghép buồn, để tạo nên một chỉnh thể tấm kính vạn hoa buồn về kiếp người. Viết về thân phận con người đương đại trước tiên là một thái độ mang tính ý thức chính trị của nhà văn, bởi nó là bản tường trình về trật tự xã hội và cơ cấu quyền lực hiện tồn. Qua chủ đề gai góc này, nhà văn thể hiện chính kiến, bản lĩnh, nhưng cũng thể hiện trình độ nghệ thuật của mình bởi tính luận đề, nghị luận cần được xử lý khéo léo, tránh biến nhân vật và cốt truyện trở thành cái loa phát ngôn cho nhà văn. Theo nghĩa ấy, những truyện ngắn như Đêm về sáng, Đếm sao cho hết con đường chưa đi, Thảo nguyên gió giỡn, Rồi sẽ có bạn, Sóng gió Ô Cấp, Xóm ven núi Diên… đã thể hiện rõ thái độ trí thức của Trịnh Sơn, cũng như tài năng nghệ thuật hóa những chủ đề nghị luận xã hội. Những vấn đề nghị luận xã hội trong truyện ngắn Trịnh Sơn không nhất thiết phải dựa trên một nguyên mẫu có sẵn trong thực tại nào, mà có thể nó là một sự cảnh báo, dự báo về nguy cơ suy đồi nền văn minh hậu hiện đại của thời đại chúng ta.

Trong truyện Đêm về sáng, Trịnh Sơn kể về thân phận của người họa sĩ thiên tài có tên Tô Đông, sống trong một chế độ do Tướng quân – với tư cách một tên độc tài nắm giữ. Tướng quân bắt họa sĩ Tô Đông phải tặng hắn bức họa phẩm Rơm vàng vô giá, rồi lại ra lệnh cho người nghệ sĩ phải vẽ bức tranh Chân dung lãnh tụ để tặng. Xã hội mà họa sĩ Tô Đông đang sống có một cuộc chiến kéo dài 1257 năm. Một xã hội trì độn mà mọi con đường phát triển dường như là một mê lộ đi vòng: “Từ cổ điển – phục hưng – hiện đại – hiện sinh lại quay về cổ điển. Thức ăn của nó vẫn chỉ là xác người. Thức uống của nó vẫn chỉ là máu người…” [tr.34-35]. Quyền lực trong xã hội của họa sĩ Tô Đông bị tập trung trong tay Tướng quân, và bằng những lối lập luận có tính “mị dân” khi đồng nhất mọi quyền lực của nhân dân với quyền lực của người cầm quyền, nên kẻ cầm quyền có thể làm mọi điều mà hắn muốn. “Phủ Tướng quân là chính phủ, Chính phủ là đất nước. Đất nước là nhân dân…” [tr.34]. Khi cưỡng đoạt bước tranh Rơm vàng, họa sĩ Tô Đông được Tướng quân tặng danh hiệu hoạt động nghệ thuật vì dân, mọi tác phẩm anh sáng tạo nên đều được ca ngợi là “Tác phẩm Vì dân”. Tuy nhiên, nếu câu chuyện chỉ dừng lại ở tính luận đề và việc phản biện xã hội thôi thì Trịnh Sơn cũng chỉ là nhà văn hạng xoàng. Cái thành công của truyện ngắn là nhà văn đã khéo léo dùng “siêu hư cấu” (metafiction) nhằm xây dựng nên thế giới nghệ thuật. Chủ thể trần thuật – người kể chuyện không phải là một con người bình thường, bằng xương bằng thịt, mà là một thực thể vô hình có thể “trườn” vào nhà của họa sĩ Tô Đông. Sinh vật kì bí này vừa giống rắn, lại dường như là một thực thể huyền bí siêu nhiên như trong Kafka bên bờ biển (H.Murakami) cũng có một thực thể kì ảo không hình dạng. Chính người kể chuyện mang tính huyền ảo, phi lý này đã nhắc nhở người đọc đến với một tác phẩm hư cấu, mang bóng hình ám dụ về hiện thực, chứ không phải thế giới nghệ thuật chính là thế giới hiện thực.

Ở những truyện khác, Trịnh Sơn đã đi sâu vào những phi lý của xã hội hậu hiện đại như nhà tù là nơi làm tha hóa, có tính chất trừng phạt con người hơn là nơi cải hóa và giúp con người ăn năn. Trong Thảo nguyên gió giỡn, Linh là một nhân vật vừa ra tù, đi tìm lại gia đình của người bạn thân trong chốn lao ngục. Nhà tù theo quan niệm của anh là nơi mà: “nhiều kẻ phải trả giá nhiều hơn tội lỗi của mình đã gây ra, bởi cái khát khao tự do ám ảnh quá khứ và nỗi nhớ thương cuộc đời đè nặng lên ngực. Một ngày như mọi ngày, những câu hỏi đã mòn trên môi thâm: Bao giờ mới gặp lại người đời nhỉ?” [tr.65]. Những đề tài nặng tính luận đề xã hội, nhưng đã được tác giả triển khai đầy chất thơ với những câu văn như thơ văn xuôi, thậm chí là lai ghép rất nhiều thơ vào trong truyện ngắn đã góp phần làm mềm hóa tác phẩm.

Có lẽ tính chất nhân – quả đã ám ảnh vào trong mô thức sáng tạo của Trịnh Sơn, biến những câu chuyện của anh thường có lối kết cấu xoay vòng mà những người gieo nhân nào sẽ nhận lại quả nấy. Nước dưới chân cầu kể về mảnh đời của hai anh em bán vé số cùng một người cha hờ sống vạ vật, lang bạt dưới một chân cầu trong thành phố. Một lần, người cha (lão Gằn) cùng hai anh em Lọ và Lem cứu vợ chồng người giàu tự sát nhảy cầu chết mà người cha bỏ mạng. Nhưng cuối cùng, người đàn bà được cứu sống lại nhận ra Lọ và Lem là con ruột, vì bà chính là người mẹ của chúng bỏ đi trong quá khứ, sau khi để lại hai đứa trẻ cho lão Gằn, dù chúng không phải là con ông. Sự đổ vỡ quan hệ gia đình chính là một biểu hiện của sự đổ vỡ quan hệ xã hội trong thời hậu hiện đại. Ở đấy, gia đình không còn là nơi quay về, nơi che chở cho con người trong bão táp, mà chỉ là cái họ tìm thấy được khi đã bước qua cái chết hay đối diện với cái chết. Mọi sự đoàn tụ ấy, ngoài ý nghĩa tìm thấy đáp số cho bài toán bị truy vấn, hoàn toàn không mang lại hạnh phúc hay một sự đổi thay nào trong cuộc đời hay tư tưởng nhân vật. Con người cứ mãi bị cách chia, xa rời trong thời đại ngày nay.

Tuy nhiên, mảng truyện ngắn có tính luận đề trên theo tôi không phải là những thành công nghệ thuật đặc sắc của Trịnh Sơn trong cuộc hành trình khám phá thân phận con người hậu hiện đại. Chính những truyện ngắn không có cốt truyện, đi sâu vào những mối quan hệ thường nhật của con người, với những nhân vật bé mọn giữa một cuộc đời bình thường mới là thành công đặc sắc của tác giả. Đọc những truyện như Mất phương hướng, Bóng người nhỏ lôi theo, Rồi sẽ có bạn, Đám đông đáng lẽ, Một người… chúng ta có thể thấy bóng dáng của những truyện ngắn theo chủ nghĩa cực hạn (minimalism) của Raymond Carver, cũng như thấp thoáng bóng dáng của những truyện theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism) và phi lý theo lối F.Kafka hay H.Murakami. Với truyện Mất phương hướng, tác giả không trình bày với chúng ta một cốt truyện hoàn chỉnh, lớp lang với những sự kiện xung đột mà chỉ bám vào những trạng huống tinh thần khó nắm bắt, nhằm lách sâu vào những vết thương trong não trạng hậu hiện đại. Những câu hỏi tưởng chừng như bâng quơ, vô nghĩa nhưng lại hàm chứa trong nó nhiều băn khoăn có tính bản thể. Về sự kiện một cái tivi tự bật trong phòng làm việc, vốn là một sự kiện bình thường, thậm chí vụn vặt, nhưng tác giả cũng nhìn ra trong nó sự bất an thường trực, bằng những câu hỏi không hề giản đơn trong thời đại của chúng ta: “Thế là tôi lại chúi mũi vào cái màn hình máy tính đặt trước cửa sổ, châm một điếu thuốc và nghĩ ngợi: nếu nó đã tự bật thì làm sao không thể tự tắt nhỉ? Đã dám tự bật mình lên thì cớ gì lại không dám ồn ào náo nhiệt?” [tr.11]. Câu hỏi này, kì thực là một sự chất vấn bản thể, nếu đã sinh ra làm người sao không dám sống hết mình, đã sinh ở trên đời sao không dám chết một cách xứng đáng? Mỗi người sinh ra, như một cái tivi được bật lên, hẳn rằng phải có ý nghĩa nào đó. Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, sống tức là truy tìm ý nghĩa cuộc đời của chính mình. Câu chuyện cứ diễn ra trong những tình tiết, sự kiện tưởng chừng như vặt vãnh, lèm bèm của cuộc sống thường nhật. Ví dụ như trò đùa giả định đặt tên đường theo các nhân vật trong Truyện Kiều, những thắc mắc tại sao con người đổ tiền để say rồi lại đổ tiền để giải say? Càng có nhiều lí do để bỏ thuốc thì lại càng có nhiều lí do để hút thuốc. Khi hút thuốc thì mọi người đều giống nhau, còn khi bỏ thuốc thì mỗi người mỗi vẻ… Ở đấy nhân vật tôi cũng như hai vợ chồng người bạn tên Nhân bị mất phương hướng, dẫn đến đánh mất bản thể và bản sắc trong cuộc sống. Vì quá đam mê sách vở, Nhân dần xa cách với vợ và cuộc sống thường nhật, để rồi cuối cùng mất phương hướng rồi biến mất. Một sự biến mất mang màu sắc phi lý của F.Kafka, H.Murakami như trong Hóa thân hay Biên niên kí chim vặn dây cót, nhưng dưới một diễn ngôn truyện kể cực hạn kiểu Raymond Carver.

Trong truyện ngắn phi lý Bóng người nhỏ lôi theo, Trịnh Sơn đã tạo ra sự bất an thường trực khi người chồng thường xuyên bị ám ảnh (hoặc có thể có thật) bị con chó cưng của vợ cắn mỗi lần gần gũi vợ. Mối quan hệ giữa hai vợ chồng đang tan rã, mặc dù họ có rất nhiều tiền. Người vợ say đắm, dành hết tình yêu cho con chó cưng, nàng xem nó như con bởi hai vợ chồng vô sinh. Còn người chồng leo lên tận tột đỉnh vinh quang của quyền lực với cái chức giám đốc, bị cuốn theo những trò vui, cuộc nhậu mà quên cách làm cho vợ hạnh phúc. Đúng lúc ấy, một tên nhân viên xu nịnh xuất hiện đúng chỗ, tặng vợ sếp một con chó cảnh và được thăng quan tiến chức liên tục nhờ biết cách làm hài lòng mệnh phụ phu nhân. Câu chuyện không hay ở sự tố cáo nạn hối lộ, chạy chọt chức quyền, mà đặc biệt ở cách tác giả tạo ra sự bất an thường trực trong cuộc sống thường nhật của gia đình của hai vợ chồng giám đốc. Con chó cưng như một bức tường ngăn trở sự gần gũi, âu yếm giữa chồng và vợ, nó cũng như một con quái vật hút hết mọi tình cảm của hai người, sẵn sàng tạo ra những vết cắn bí ẩn trong đêm như một ẩn dụ về vết thương bề sâu trong thế giới tinh thần. Nhưng bạn đọc nếu tinh ý có thể thấy “con chó” ấy thực ra không phải là con chó cưng trong thực tại, mà nó như một bóng ma xuất hiện ngay trong thế giới tinh thần của người chồng, trong mối quan hệ bị rạn vỡ của hai vợ chồng giám đốc.

Một số truyện khác như Gieo mồi vào sóng, Thuốc cho ngày mai, Đám đông đáng lẽ… có nhiều suy tư và khai thác thân phận con người hậu hiện đại theo những lối khác nhau, nhưng nhìn chung chưa thật đặc sắc và có nhiều điểm nhấn nghệ thuật như những truyện đã được phân tích nói riêng. Phải thẳng thắn thừa nhận rằng một số truyện của Trịnh Sơn tính luận đề hơi lộ, và cốt truyện, tình tiết nhiều khi được xây dựng khiên cưỡng, phi thực tế. Nhìn chung, truyện ngắn của Trịnh Sơn dẫu có nhiều thành công và bên cạnh đó là những hạn chế mang tính lãng mạn của một nhà thơ, nhưng đã nỗ lực đi sâu phân tích trạng huống tinh thần của con người hậu hiện đại, nhằm cắt nghĩa thân phận của họ từ những bi kịch và đổ vỡ. Nhưng sau cùng, cái lấp lánh nhân văn của niềm hi vọng bao giờ cũng được thắp lên. Do đó, những đứa trẻ trong các truyện ngắn của Trịnh Sơn bao giờ cũng được/còn sống, và chúng bao giờ cũng là sự hứa hẹn về một tương lai phục hưng lại nhân vị cho con người, đúng như tinh thần trong những bài thơ nổi tiếng về đứa bé (Đứa bé, Đứa bé trở lại) của anh.

2. Cổ mẫu nước trong tâm thức sáng tạo

Phê bình cổ mẫu – một nhánh của phê bình phân tâm học hiện nay đang nhận được sự quan tâm của không chỉ giới nghiên cứu văn học, mà còn cả giới nghiên cứu văn hóa hay nghiên cứu floklore học. Phê bình cổ mẫu đi sâu vào vô thức tập thể của các tộc loại, nhằm khảo sát những biểu tượng có tính chất huyền thoại nằm sâu trong tầng vô thức của cộng đồng. Cùng với lửa, đất, không khí… nước là một cổ mẫu cơ bản trong hệ thống những cổ mẫu nguyên thủy trong vô thức tập thể của con người. Đi từ mệnh đề liên tưởng mang tính bản chất giữa nước – sự sống – cái chết, tôi đã phần nào tìm thấy chìa khóa nhằm giải mã cổ mẫu nước trong truyện ngắn Trịnh Sơn.

Có thể thấy gần như trong toàn bộ các sáng tác của mình, nước chính là cổ mẫu ám ảnh Trịnh Sơn sâu đậm hơn bất kì cổ mẫu nào. Có thể lí giải điều này từ nhiều góc độ, mà trước tiên là từ phân tâm học tác giả. Trước tiên, Trịnh Sơn là người miền biển, sống trong nước và bên cạnh đại dương. Vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu mà anh sống là một thành phố biển, mỗi ngày, không gian nước hùng vĩ ấy thấm đẫm vào hồn thơ Trịnh Sơn. Anh lại từng có quãng thời gian “lưu vong” xứ người. Cảm thức nước trong Trịnh Sơn như thế, là cảm thức ly hương và hồi hương, biển đóng vai trò như một biểu tượng cửa ngõ của tâm hồn hoài niệm. Quan trọng hơn, Trịnh Sơn là nhà văn/thơ sinh ra trong thời đại mà tình hình chính trị, kinh tế và quân sự của mọi quốc gia đều hướng ra phía biển. Đọc lại tập thơ đầu tay của Trịnh Sơn, những bài thơ hay nhất như Hải đảo, Rủ nhau ra biển, Scarlett áo xanh, Đứa bé, Tuổi trẻ… đều có hình tượng của biển, mà rộng ra là hệ thống hình tượng liên quan đến cổ mẫu nước.

Trong Gieo mồi vào sóng, nước với tư cách một cổ mẫu ám ảnh và tồn tại thường trực trong lòng dân tộc Việt, đã hiện ra mang tính lưỡng diện, vừa là sát nhân nhưng lại vừa là dạ con mẹ sinh tạo, cứu rỗi con người. Truyện ngắn Đếm sao cho hết con đường chưa đi xây dựng nên một dòng sông có tính ẩn dụ, mang tên dòng sông Nhục. Con sông này bao quanh một nhà tù như một rào cản khắc nghiệt tự nhiên, chia cắt xã hội con người với thế giới nhà tù. Các tội nhân muốn vượt ngục để kiếm tìm tự do phải chấp nhận thử thách bơi qua sông, và đa phần đều bỏ mạng trong dòng nước dữ. Hai mẹ con Lượm sống bên cạnh trại giam, người mẹ từng cứu một tù nhân vượt ngục để rồi chết đuối mất xác dưới lòng sông. “Dưới lòng sông đó. Mất xác cũng chỉ vì cái tội thương người… Thằng tù vượt ngục thì bị bắt sống để tiếp tục ở tù. Mẹ bây nhảy xuống dìu được nó trở lại bờ bên kia, một mình băng qua bên này thì bị nước cuốn” [tr.42]. Sau này, người quản giáo được cứu sống năm xưa đã liều mình dưới dòng nước để cứu Lượm, khi cậu cũng cứu giúp một kẻ tù vượt ngục băng sông khác. Nước lúc này lại đóng vai sát nhân, nhưng đồng thời, ta tin rằng nó sẽ gột rửa và thanh tẩy cho tâm hồn của kẻ thù nhân mới vượt ngục, cũng như giúp người quản giáo trả được món nợ sinh mạng cho ân nhân năm xưa.

Chính vì theo nghĩa thanh tẩy và chữa lành ấy, mà trong Gieo mồi vào sóng, ông Cần vốn là một sếp lớn đã từ bỏ quyền lực chỉ để ngồi câu cá rồi lại thả vào nước, hoặc chỉ để dành cho cậu bé nghèo nhặt rác. Sự cảm nhận cái đẹp của những con cá trong nước đã cho thấy nước thực sự là một cổ mẫu sinh tạo dành cho sự sống: “Vậy, khi ở dưới nước kia, mắt cá không đẹp a? – Còn bơi tung tăng, còn vẫy vùng trong vương quốc nước xanh biếc, nó đẹp bằng vẩy, bằng vây, bằng đuôi, bằng cong cong uốn lượn há mang thả bọt” [tr.128]. Nước làm ông sao nhãng việc kinh doanh, nhưng trên phương diện tinh thần đã giúp ông thức tỉnh và đốn ngộ được ý nghĩa của cuộc đời mình trước sự phù phiếm của danh vọng tiền tài. Theo nghĩa này, nước biển trong truyện ngắn đã thực hiện thiên chức tái sinh, thức ngộ của mình.

Cổ mẫu nước với thiên chức tái sinh và hủy diệt của mình còn được thể hiện rõ trong truyện ngắn Nước dưới chân cầu. Ba cha con “hờ” gồm lão Gằn cùng hai đứa con (nuôi) Lọ và Lem sống chui lủi, bấp bênh dưới chân cầu của một con sông chảy qua trên thành phố. Hằng ngày họ lấy sông nước làm nhà, làm đệm, làm giường để sống qua ngày. Nước đã nuôi dưỡng họ trong một thế giới không còn chỗ dung thân cho những kẻ bần cùng dưới đáy xã hội. Nhưng nước cũng đã giết chết lão Gằn như một đao phủ oan nghiệt, khi lão cùng con ra sức cứu mạng hai vợ chồng nhà giàu nhảy cầu tự sát. Tác giả đã không tiết lộ với chúng ta về cuộc sống của Lọ và Lem sau khi tìm được mẹ, liệu mẹ chúng có bù đắp lại được niềm vui nào sau quãng thời gian bỏ đi hay không, có lẽ bởi vì Trịnh Sơn không viết truyện cổ tích. Những ít ra, nước đã làm cho những nghi ngờ về thân phận Lọ và Lem được tan ra, giúp chúng lần đầu tiên nhận ra rằng mình yêu lão Gằn, cho dù không có quan hệ huyết thống đi chăng nữa.

Dưới nước, mỗi người như được chui lại vào trong bào thai của mẹ, được nước ôm ấp, vỗ về, mọi vết thương gần như được hóa giải. Do đó, trong Chân của Yết Kiêu, nhân vật Năm Dũng vốn tật nguyền cụt cả hai chân, trên bờ anh chỉ là một kẻ tàn phế bỏ đi, không thể đi lại được, tuy nhiên ở dưới nước, anh lại tung tăng bơi lội như một con rái cá. “Nếu biển không có bờ, người ta chỉ phải bơi lội lặn ngụp mà không phải lo cập bến, phải đi đứng chào hỏi nghiêm ngắn, có lẽ Năm Dũng chấp hết” [tr.201]. Chân của Yết Kiêu cùng với Quá khứ chưa xong và Sóng gió Ô Cấp và Xóm ven núi Diên là những truyện ngắn xuất sắc nhất trong tập truyện Gieo mồi vào sóng của Trịnh Sơn. Bốn truyện ngắn này tạo ra một đề tài và không gian riêng trong nền truyện ngắn Việt Nam đương đại – đề tài và không gian tái hiện ở miền Nam Việt Nam trước 1975. Người viết, nhất là người viết trẻ như Trịnh Sơn dám mạnh dạn khai phá vào mảng đề tài này phải có bản lĩnh cầm bút, cũng như sự tìm hiểu tri thức công phu, bởi tác giả thuộc thế hệ sinh ra khi nước nhà đã thống nhất. Thành công của Trịnh Sơn đó là anh đã tái hiện không – thời gian một cách chính xác với những sự kiện, dấu ấn văn hóa, những chi tiết sinh hoạt đời thường của con người trong chế độ miền Nam trước 1975. Từ những chức danh, quan hệ xã hội, đồ dùng vật dụng, sự kiện năm tháng… đều được tái hiện sinh động, khiến người đọc có cảm giác như tác giả là một người từng trải sinh vào khoảng thập niên trước 1970 tại miền Nam.

Trong Sóng gió Ô Cấp, khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã đi đến hồi kết, trong một ngôi trường nhỏ thầy giáo Việt văn đã đứng lên đấu tranh chống lại sự bắt bớ, đàn áp học sinh của thiếu tá ngụy Bảy Lửa. Con gái của chính thiếu tá là Linh chị cũng đứng về phía Quang – một thiếu niên sớm giác ngộ cách mạng. Nước đã đóng vai trò phân ly cuộc tình của Hội và Linh em, khi cô phải theo cha lên tàu chạy ra Hạm đội 7 trong sự kiện 30/4/1975. Nhiều năm sau, Linh em lại vượt biển về Việt Nam mang theo con trai của Hội để nhận cha. Nhưng người còn sống mang tên Hội lại chỉ là người anh trai trước từng học thiếu sinh quân, còn Hội thực sự đã chết. Nước đầy sóng gió lúc này cũng đồng thời chính là đất nước trong những năm chiến tranh khói bụi, với nhiều khúc quanh phức tạp của lịch sử. Với Xóm ven núi Diên, câu chuyện kể về cuộc đời của trung tá “ngụy” Đinh Văn Hoài ở xóm ven núi Diên. Ở đấy, mỗi ngày có biết bao nhiêu chuyến vượt biên của những con người nghèo đói, hoặc từng là sĩ quan, cán bộ của chế độ cũ muốn ra đi để tránh sự kì thị và mưu cầu một cuộc sống mới. Nước biển trong lúc này là một cảnh giới nghiệt ngã, thử thách sự may rủi và số phận của những con người ly hương. Bước qua được biển thì sẽ tìm thấy “thiên đường” như hứa hẹn, nhưng nếu không may thì sẽ bỏ xác dưới biển sâu một cách bi thảm. Đinh Văn Hoài không đi vượt biên, cũng từ chối đi theo dạng H.O bởi ông muốn ở lại quê hương xây dựng đất nước. Với quan niệm “mình có thể làm giàu hoặc chết đói, có thể thay đổi cả thế gian này, nếu muốn, nhưng làm sao chối bỏ được nguồn cội, dân tộc, đất nước mình. Màu da chớ có phải màu áo đâu mà muốn thay thì thay. Có qua Mỹ, bác cũng chỉ là thằng lính già hết thời, ăn bám vào chế độ người ta ban phát” [tr.197].

Nước trong truyện ngắn Trịnh Sơn có vai trò là một cổ mẫu mang tính biên/cảnh giới. Do đó, rất nhiều người khao khát vượt biên, vượt qua nước nhằm để đổi đời. Trong Quá khứ chưa xong, năm người bạn học thời ấu thơ khi lớn lên lại đi theo hai phía, Quang theo chế độ miền Nam còn San, Thanh, Toàn, Trung theo cách mạng. Hòa bình lập lại, Toàn lại vượt biên do điều kiện sống khó khăn nhưng bị Trung là cán bộ biên phòng bắt lại. Câu nói mắc nghẹn của Trung: “Mày tưởng vượt biển sẽ tới được thiên đường ư? Chiếc ghe đó nhỏ xíu chở mấy chục mạng người lớn bé sao chịu được bão tố, sóng gió, cướp biển…” và sự hồi đáp của Toàn: “Biển sẽ tha cho tao. Họ sẽ tha cho tao. Chỉ có mày là không tha cho tao…” [tr.232]. Sau đó, những người bạn từng một thời cùng chiến đấu với nhau, trên cả phương diện đồng đội lẫn kẻ thù trớ trêu lại lênh đênh trên một chuyến tàu vượt biên. Toàn, Thanh, Quang đã lập mưu lừa Trung ép cùng họ vượt biên. Trên chuyến đi bão táp đó, họ đã gặp cướp biển, Toàn và Trung bị giết chết bởi đạn cướp biển, sau đó bị đồng loại trên ghe ăn thịt do quá đói, Thanh cũng chết vì kiệt sức. Chỉ có Quang sau này được sang Mỹ theo diện đoàn tụ H.O, và cuối cùng trở thành Việt Kiều yêu nước. Nước qua đó đã thử thách tình bạn của năm người bạn cũ, nước đã dùng cái chết, sự ngăn trở về ý thức hệ, đường ranh giới của những quốc gia để kiểm nghiệm những tình bạn bất diệt này. Có thể rất nhiều người đã chết dưới/trên biển, nhưng qua đó hận thù được hóa giải, và thế hệ sau này được sinh ra và lớn lên trong sự hòa hợp, yêu thương.

Chân của Yết Kiêu theo quan điểm cá nhân tôi là truyện ngắn xuất sắc nhất trong Gieo mồi vào sóng, khi phác họa được số phận và mâu thuẫn của dân tộc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, thông qua số phận và mâu thuẫn gia đình của hai anh em Năm Dũng và Sáu Lộc. Bi kịch gia đình và bi kịch dân tộc, mâu thuẫn ý thức hệ và mâu thuẫn tính dục đan cài, ràng buộc nhau một cách nghệ thuật, khéo léo. Biển như chứng nhân để chứng kiến mọi nỗi đau của con người. Nước đã bao dung với biết bao thế hệ người con xứ Việt, cho dù có lúc buộc họ phải đổ máu, phải giết nhau hay bỏ mạng nơi sóng gió. Nếu không có tất cả những mất mát đó, thì người Việt đâu thể có bản lĩnh và khuôn diện như ngày hôm nay. Cổ mẫu nước trong truyện ngắn Trịnh Sơn do đó là một cách ý thức về dân tộc tính, một kiến tạo chữ nghĩa xuất phát từ vô thức cá nhân, nhưng đã bắt gặp vô thức tập thể của dân tộc, trong một thời đại mà đất nước đang nghiêng mình về phía biển.

Sau tất cả cuộc hành trình chữ nghĩa của Trịnh Sơn, chúng ta thật khó đoán biết được đâu sẽ là điểm dừng của anh. Thơ hay truyện ngắn, và biết đâu là cả tiểu thuyết và kịch? Sự tham dự của Trịnh Sơn vượt ra ngoài khuôn khổ và phạm vi của nghệ thuật, mà luôn muốn riết róng đổi thay, xây dựng một nền tảng xã hội mới, con người mới và thân phận dân tộc mới. Để làm được điều đó, có lẽ anh sẽ còn cần rất nhiều nỗ lực đổi mới, nhưng tôi tin anh sẽ làm được, như dân tộc chúng ta sẽ nhất định giữ được biển đảo của mình. Mỗi người lúc này, bất chấp có là nhà văn hay không, đã đến lúc trở thành một Yết Kiêu dũng cảm lao mình xuống biển để sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Đó có lẽ là thông điệp nhân văn quan trọng nhất trong tập truyện Gieo mồi vào sóng của Trịnh Sơn.

(Theo Văn nghệ BR-Vt số 140)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*