Home » Bài của bạn » Ê PÔ XI

Ê PÔ XI

TRẦN MẠNH NGÔN

EpoxiGiữa thập kỷ sáu mươi của thế kỷ XX, Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CEB) của phe Xã hội Chủ nghĩa có một cuộc họp quan trọng được tổ chức tại Beclin, thủ đô nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Ta thường gọi rút gọn là Đông Đức. Vì là Hội đồng Tương trợ Kinh tế nên chủ yếu bàn về kinh tế. Tính ưu việt của nền kinh tế chỉ huy bao cấp thì đã rõ không cần tranh cãi nữa. Không ưu việt thì làm sao mà đánh bại được phát xít Đức. Đến như  một anh đế quốc to như Mỹ cũng phải sợ không dám đến gần. Liên xô đảm đương sứ mạng lịch sử : “tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức Ý Nhật cứu nhân loại khỏi nạn diệt vong” – sử ta dạy thế. Đánh bại được phát xít Đức thì không có điều gì không làm được. Năm đó Việt Nam chưa phải là thành viên chính thức nên được chiếu cố tham dự với tư cách quan sát viên. Một đoàn chuyên gia thượng thặng tháp tùng vị Bộ trưởng không bộ quản lý Phủ Thủ tướng tham dự hội nghị này. Với tư cách quan sát viên phái đoàn ta chỉ nghe mà không nói. Không nói hóa hay. Ê pô xi là cái “đinh” của hội nghị này. Người phe ta bàn sôi nổi lắm. Ê pô xi là chất kết nối cực kỳ vững chắc, cực kỳ nhanh chóng, tiện lợi. Nó có thể thay bu loong, đinh tán nối các giầm cầu bằng sắt thép, nối cá bệ phóng vệ tinh lên quỹ đạo, nối các bộ phận cơ yếu của phi thuyền. Ê pô xi không chỉ là chất keo gắn kết quan trọng của công cuộc xây dựng mà đã trở thành vật liệu chiến lược cho an ninh quốc phòng. Phe tư bản đang ráo riết tìm kiếm. Chúng nó tập trung toàn nhà khoa học đầu ngành ra sức phát minh sáng chế mà chưa đâu vào đâu. Phải mất vài ba thập kỷ nữa thậm chí hết thế kỷ XX chưa chắc đã có. Trong tình hình hiện nay ai làm chủ ê pô xi là người đó làm chủ nhân loại.

    Đoàn ta ngồi nghe tâm đăc lắm. Bộ trưởng – trưởng đoàn Trần tiên sinh vốn là một con người nổi tiếng năng động, hăng hái thấp thỏm ước mơ. Cả đời ông chỉ muốn làm giàu cho dân cho nước theo ngạn ngữ “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu. Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”. Giá như ta có ê pô xi thì “nhân loại trong tay ta”. Việt Nam đã là “lương tri của thời đại” có ê pô xi nữa thì ta làm chủ nhân loại là điều không phải bàn. Đọc được nỗi ưu tư của trưởng đoàn, một quân sư thành viên cung kính, thận trọng xin gặp riêng Bộ trưởng báo cáo mật rất hệ trọng là ta có nguồn tài nguyên ê pô xi dồi dào mà chưa khai thác. Bộ trưởng sung sướng đến sững sờ. Vài ngày họp cuối ông không hào hứng cho lắm. Chỉ mong người ta kết thúc sớm chuồn cho nhanh để về mà bắt tay ngay vào thực hiện chiến lược ê pô xi “cây nhà lá vườn”.

Hội nghị kết thúc trong tình trạng dường như còn bế tắc.

    Đoàn ta là quan sát viên nên không đông như các đoàn bạn nên thành viên tháp tùng Bộ trưởng chỉ xem xem một tiêủ đội. Bộ trưởng đặc biệt dành ưu ái cho nhà khoa học được ông vừa ban cho cái tên bí mật rất trừu mến là “Ep”. Ep là hai chữ đầu của từ Ê pô xi. “Bí mật, bất ngờ”.Ta đánh thắng quân xâm lược từ xưa đến nay đều tạo được thế bất ngờ thì ê pô xi cũng hết sức bí mật bất ngờ. Giữ được bất ngờ là “nhân loại trong tay ta”. Ta sẽ làm chủ nhân loại. Bộ trưởng dặn dò vị quân sư Ep và dường như gắn mình vào từng bước đi, bữa ăn, giấc ngủ, hơi thở của nhà khoa học có một không hai này để đề phòng ông ta sơ hở vui miệng làm rò rỉ thông tin tuyệt mật về nguồn ê pô xi của ta. Bởi vậy tuy không thu được gì và cũng không ai coi ra gì nhưng đoàn ta ra về hễ hả, cao ngạo ngầm. Nôn nóng, khẩn trương là tâm trạng Trưởng đoàn bung sang đoàn viên. Xuất ngoại những năm xe đạp, quạt máy là mục tiêu từ đầu thì khi đã đạt mục tiêu là động cơ thôi thúc. Có rồi thì về mà mại là thượng sách. Hành lý đủ cân đủ lạng rồi. Nấn ná thêm rách việc. Ai cũng nôn nóng về. Mỗi người một tâm trạng riêng. Chỉ có hai người là có tâm trạng chung. Đó là trưởng đoàn và nhà khoa học kiệt xuất.

    “Bọn các ngươi rồi sẽ biết tay ta. Quân đế quốc tư bản rồi cũng sẽ biết tay ta”. Ai làm chủ ê pô xi người đó làm chủ nhân loại.

    “Nhân loại trong tay ta”. Trưởng đoàn đắc chí lắm.

    Về đến Hà Nội chưa kịp nghỉ ngơi, vị Bộ trưởng không bộ này vội vàng cho triệu tập một cuộc họp kín hạn chế chỉ có 6 người tham dự. Người số 1 là ông Lò, nhân vật hàng đầu của tỉnh Lai Châu, địa phương đứng trên kho tài nguyên ê pô xi vô tận. Người số 2 là Bùi, người hùng của tỉnh Hoà Bình nơi có tiềm năng ê pô xi không thua Lai Châu bao nhiêu. Người số 3 là Ngô Thái Bình nơi có nguồn nhân lực dồi dào gần như vô tận. Người số 4 cũng lại là Ngô Hải Dương. Hai người sau được mệnh danh của đoàn quân “đâu cần thanh niên có. Đâu khó có thanh niên”. Tiềm năng ê pô xi Lai Hòa Thái Hải (Lai Châu, Hoà Bình, Thái Bình, Hải Dương) sẽ đưa Việt Nam lên vị trí đứng đầu nhân loại không còn là chuyện viễn vông. Cuộc họp tổ chức ngay tại tư dinh Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Đây là cuộc họp đặc biệt bàn việc công lại tổ chức tại nhà tư chưa hề có thông lệ. Ngoài nội dung thông báo nội bộ hết sức vắn tắt về kết quả chương trình nghị sự của Hội đồng Tương trợ Kinh tế phe ta do Bộ trưởng, trưởng đoàn trình bày. Điều ông nhấn mạnh và lưu ý nhất là chiến lược ê pô xi và vai trò của nó trong thế giới hậu hiện đại. Ông Trần kể sơ qua diễn biến cuộc họp trong vòng chưa đến một tiếng đồng hồ. Giải lao bốn ông Bí thư có lén gặp nhau thắc mắc sao không để đến hội nghị toàn thể cho mọi người cùng nghe. Thì thào qua lại đến tai Bộ trưởng và bốn đồng chí Bí thư mới hiểu thêm rằng mình được ưu ái hơn, đặc ân hơn. Sau vài phút giải lao cuộc họp chuyển thành sự học. Quân sư Ep được thay mặt Bộ trưởng giải trình về tiềm năng và triển vọng ê pô xi Việt Nam. Ba ngày ăn, ngủ, học ngay tại tư dinh Bộ trưởng là niềm vinh dự tự hào của bốn ông lớn đứng đầu bốn tỉnh. Từ xưa đến nay chưa ai được hưởng đặc ân theo mức này.

    Cuối buổi chiều ngày thứ 3 Bộ trưởng trực tiếp bàn phương hướng kế hoạch thực hiện với 4 vị đầu tỉnh. Bởi những giờ phút này được coi là trọng đại nên quân sư Ep không cần có mặt. Người vui nhất, hồ hởi nhất là đồng chí Lò Lai Châu. 6 năm kể từ hôm nay (1960) lô ê pô xi đầu tiên ra đời cũng đồng thời với sự ra đời tuyến đường sắt đặc biệt hiện đại Hà Nội – Sơn La – Lai Châu. Viễn cảnh ga Pha Đin vào năm 1966 hiện lên trong 5 cái đầu lãng mạn cách mạng đã làm nên những tràng cười sảng khoái hồ hởi. Trong bữa chiêu đãi tại gia này Lò Lai Châu hăng hái ký góp cánh đồng Tuần Giáo để sản xuất ê pô xi. Ngô Thái Bình góp đầy đủ nhân lực cho nông trường thế kỷ. Bùi Hòa Bình và Ngô Hải Dương xin trả lời sau khi bàn bạc với tập thể tỉnh nhà. Trần Bộ trưởng tỏ thái độ không hài lòng và chê hai vị này thiếu tính quyết đoán nhưng biết tôn trọng ý kiến tập thể cũng là điều đáng khen. Từ tư dinh Trần Bộ trưởng ra, hai vị đứng đầu hai tỉnh Hoà Bình và Hải Dương chưa về thông báo họp tập thể để bàn về tính chiến lược của ê pô xi mà đến thẳng số 4 Dốc Ngọc Hà thăm Bùi Thừa Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế.

    Bùi Thừa Thiên người làng Xuân Dương nay còn nhà thờ họ ở cuối đường Chi Lăng thành phố Huế là một chuyên gia kinh tế giỏi nhưng bị coi là thành phần hữu khuynh vì không tán thành chủ trương cải cách ruộng đất năm 1954 – 1955. Ông phát biểu thẳng thắn bộc trực rằng nền nông nghiệp Việt Nam manh mún, nghèo nàn phát động giảm tô, giảm tức là vừa, cải cách sẽ làm rối loạn xã hội phá nát thế thái nhân tình. Về mặt kinh tế đối ngoại ông chủ trương xây dựng đội thương thuyền độc lập không uỷ thác cho hai con tàu Trường Giang và Hữu Nghị thuê bao của Trung Quốc. Bởi như thế là tự mình tước đoạt thế chủ động chịu lệ thuộc. Người ta đã loại ông xuống hàng thứ yếu. Chính trong thời gian bị vô hiệu hoá vị chuyên gia kinh tế số một này đã ngồi nhà viết nên các công trình “kinh tế Tây Bắc”, “kinh tế Vĩnh Phú”, “kinh tế Hoà Bình”, “kinh tế Hải Dương”… Mỗi vùng đất mỗi vùng người có những đặc điểm sinh thái, thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu…riêng không nên áp dụng phương thức kinh điển một cách máy móc chung cho tất cả. Ông phản đối chủ trương đa canh bắt Thái Bình đắp bờ vùng bờ thửa bơm khô nước từng vùng đồng chiêm để trồng khoai, sắn, ngô, đậu, lạc, vừng; buộc Hoà Bình san đồi cấy lúa nước mà nhà thơ tưởng là thi hào là tác giả. Tất nhiên là ông Bùi thất thế và một người bạn tâm đắc của ông cũng thất thế. Đó là ông Kim Vĩnh Phú.(Người viết những dòng này may mắn được giao sửa lỗi chính tả cho những công trình đó và còn may mắn là được ăn cá trắm do ông Bùi Hòa Bình tưởng thưởng lời khuyên vàng ngọc của Bùi Thừa Thiên. Toán học người ta chế ra cọng với cọng là cọng. Cọng với trừ là trừ. Trong cuộc đời riêng trường hợp này thì Bùi với Bùi là ngọt để rồi không lâu sau đó Bùi với Bùi đều đắng.

    Ghé vào số 4 Ngọc Hà, Bùi Hòa Bình Ngô Hải Dương nhận được lời khuyên đừng ảo tưởng. Ê pô xi và dầu thực vật xa nhau lắm. Hoà Bình đồi núi chỉ nên đầu tư vào cây công nghiệp chè, tre, vầu, nứa và nuôi cá nước ngọt theo địa thế, địa hình. Cây then đại trà không cho kết quả như mơ mộng. Hải Dương đồng đất mầu mở thừa hưởng phù sa sông Hồng thì nên lấy cây lúa làm trọng. Thâm canh lúa, quảng canh rau mầu và cây ăn quả hướng tới xuất khẩu là con đường mà Hải Dương nên theo.

    Hai vị đầu tỉnh Hoà Bình, Hải Dương lĩnh hội tư tưởng này về họp tập thể và đều có chung một thái độ khước từ mở nông trường cây then tại tứ mường: Bi, Vang, Thàng, Động. Bởi tòan tỉnh Hoà Bình chỉ có từng đó đất trồng lúa. Xoá cây lúa là bắt bà con nông dân treo niêu. Việc khước từ dù đã lấy nê là ý kiến của tập thể nhưng Ngô Hải Dương với Bùi Hòa Bình sau đó thất sủng gặp khó khăn trở ngại trong nhiều chuyện liên quan.

    Chuyện cây then chìm với thời gian và cha đẻ của nó cũng hết thời hăng hái. Cho đến tháng 3 năm 1975 nghĩa là 15 năm sau ngày mở nông trường Then Tuần Giáo anh Đặng Hoà và tôi được cơ quan cử lên Lai Châu thu xếp đưa bộ triển lãm lưu động “Thân thế và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chủ Tịch” về Hà Nội tu sửa để chuẩn bị đưa vào Sài Gòn khi được lệnh. Vì khẩn trương mà đường từ Hà Nội lên Lai Châu khá xa, xe đò bất tiện nên anh Vũ Kiên quyền Viện trưởng quyết định cho chúng tôi được sử dụng xe công duy nhất của Viện. Xe công là một cái Gas 60 mà hồi đó quen gọi là Com măng ca đít vuông cũng thuộc vào hạng xe con.

    Anh Võ Thuận lái xe đưa chúng tôi đến nhà giao tế tỉnh Lai Châu. Thời đó hễ là xe con bất kể trong xe người hay không phải người đều được đi vào khu giao tế tỉnh một cách dễ dàng và đều được đăng ký ăn, ở trong “lãnh địa” này không cần xuất trình giấy tờ. Khu giao tế tỉnh được phân làm hai bộ phận A và B. A là một ngôi nhà tường xây ngói đất đứng riêng biệt có vẽ sang trọng như một tư dinh dành cho khách đặc biệt của quan đầu tỉnh. Khu B là bốn ngôi nhà vách trát toóc xi (cốt phên trát vữa quét vôi trắng) mái lợp lá gồi. Mỗi nhà được ngăn thành nhiều phòng. Ba anh em tôi được ở phòng giữa. Hai phòng bên là đoàn các nhà khoa học cũng từ Hà Nội lên cùng nhận phòng với chúng tôi. Họ lên tham dự cuộc họp quan trọng để bàn về số phận nông trường cây then ở cánh đồng Tuần Giáo. Đêm đầu vì ngồi xe một chặng đường dài ai cũng thấm mệt nên không có chuyện gì để xì xào. Sáng hôm sau ba anh em chúng tôi phải vào Mường Lay để thu xếp công việc mãi gần tối mới trở về giao tế Lai Châu. Tối thứ hai này thật rôm rã. Các nhà khoa học của Viện Khoa học Việt Nam sau một ngày thảo và luận không ngã ngủ tối về tiếp tục tranh và cãi ra trò. Nhà thưng vách lửng. Ngăn được sự nhìn nhưng không ngăn được sự nghe. Một nữa khuyến cáo phá bỏ trả đất cho dân trồng lúa. Lai Châu rừng núi chỉ có hai cánh đồng là Mường Thanh và Tuần Giáo. Ra sức quảng canh kết hợp thâm canh trên hai cánh đồng này vốn đã không đủ gạo nuôi dân còn phải xin trung ương chi viện. Từ năm 1960 đến nay xoá vùng lúa Tuần Giáo nên dân Lai Châu đói dài dài. “Có thực mới vực được đạo”. Phá bỏ cây then trả ruộng cho dân trồng lúa là đắc sách. Phái thứ hai lại kiên quyết duy trì nông trường cây then với lý sự là “vốn đầu tư cơ bản bỏ ra suốt 15 năm chưa thu hồi. Nhân công lên từ lứa tuổi mười tám, đôi mươi nay đã nạ dòng. Xoá bỏ thì họ về đâu. Đã trót thì phải trét. Còn nước còn tát”. Duy trì vừa mang tính nhân đạo vừa chờ thời cơ thích hợp. Không ra ê pô xi thì ra dầu thực vật. Biết đâu lại là đặc sản xuất khẩu dồi dào.Có dầu thực vật xuất khẩu là có lúa gạo.Cả hai bên đều lý sự theo kiểu đồ gàn. Không bên nào thuyết phục được bên nào. Vì tất cả bọn họ đều là các nhà khoa học thượng thặng. Có ai hơn họ đâu mà phân giải đúng sai.

    Hôm sau xong việc chúng tôi về. Họ ở lại họp tiếp vài ngày nữa.

    Mấy năm sau trên chuyến tàu Bắc – Nam tôi được lên cùng khoang với một người mới nhìn thấy ngờ ngợ, quen quen. Yên vị rồi lân la trò chuyện hoá ra đã gặp nhau ở giao tế lai Châu tháng 3 năm 1975.

    Thế nào rồi anh. Chuyện cây then ấy mà. Tôi hỏi.

    Ối giời ơi! Vẫn chưa ngã ngũ. Đứa nào ị ra thì đứa đó hót.

    Anh ta trả lời rồi nói tiếp.

    Sau hôm các anh về, hội nghị cãi nhau suốt ngày vẫn không đi đến đâu. Tất cả kéo nhau xuống Tuần Giáo. Quả là nan giải. Cây then tiếng Thái là cây đen tiếng kinh thân mộc họ nhãn, vải. Người Thái thường trồng một cây bên hồi nhà phía gom phân trâu bò lợn mà trên sàn là chỗ rửa bát và đại tiểu tiện của gia đình. Nhờ thế mà nó tốt nhưng hai năm mới cho quả một lần.

    Lập nông trường, trồng đại trà giữa thanh thiên bạch nhật, không phân bón không tưới tiêu, suốt 15 năm cây khẳng khiu cành vượt như những cái cần câu lấy sức đâu mà cho quả.Với lại nếu cho quả thì đâu phải cho ngay ê pô xi. Người Thái trồng cây then là để ép lấy dầu thay mỡ dùng trong sinh hoạt gia đình, chưa phải là hàng hoá. Bởi vậy họ chỉ ép thủ công một mùa vài ba lít là cùng. Cây then nông trường Tuần Giáo chưa hẹn ngày thu hoạch, chưa chuẩn bị cơ sở bảo quản chiết xuất, chế biến. Giá mà có quả cũng lổ đỗ chưa biết hái bằng cách gì, ép dầu ra sao. Kết quả thực nghiệm lại cho hay dầu hạt then không thể là ê pô xi như lý thuyết của vị quân sư 20 năm về trước.

    Hai mươi năm kinh phí đầu tư vẫn theo dạng kiến thiết cơ bản hạ tầng không hạch toán. Nông trường viên từ các em nay thành các chị các bà. Những người mẫu mực ở vậy tự làm, tự ăn trong tình cảnh “bỏ thì thương, sương thì nặng”. Một số chị không cam chịu “ngày thiếu mối tối nằm không” đành năn nỉ anh cán bộ trung cấp kỷ thuật chiếu cố. Chị em thì đông mà thời gian tranh thủ lại có hạn. Anh ta dẫu mũi lòng thông cảm cũng chỉ giúp được chừng vài ba chục chị em có nhu cầu làm mẹ chính đáng. Cái kim trong bọc lâu ngày còn thò ra huống hồ ở giữa rừng chỉ có chị em với nhau mà tiếng trẻ cứ oa oa liên tiếp. Sự việc vì vậy mà lộ tẩy. Anh cán bộ kỷ thuật bị kỷ luật thải hồi, đuổi về địa phương. Từ ngày đó chị em tự nhiên đau, ốm, hàng loạt. Lãn công, bãi công, cứ thầm lặng mà thực hành. Công việc bỏ bê. Đảng uỷ, Giám đốc, Công đoàn, … kêu gọi thế nào chị em vẫn ai nằm giường người đó. Không còn cách nào khác. Nông trường tuyên bố xoá kỷ luật phục hồi danh dự và cho xe về tận Thái Bình rước anh cán bộ kỷ thuật lên Tuần Giáo. Lúc đầu anh ta kiên quyết từ chối không muốn trở lên nông trường cây then nữa. Nhưng rồi nghĩ lại lời Ngô Thái Bình động viên năm nào. Mở được nông trường cây then là “nhân loại trong tay ta”. Anh cán bộ kỷ thuật nghĩ đi, nghĩ lại rồi lẩm bẩm “nhân loại lớn thì trong tay ông. Nhân loại nông trường cây then Tuần Giáo thì trong tay tôi”. Anh vui vẻ lên xe nông trường tiếp tục hành trình “nhân loại trong tay ta” để chia sẽ với chị em một thời “đâu cần thanh niên có. Đâu khó có thanh niên”. Thời thanh niên đã qua thì thời trung niên cũng thế. Vậy là “Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên”. Một số chị em khác lại tiếp tục bổ sung vào đội ngũ những người được quyền làm mẹ nhưng cây then thì vẫn giữ mãi tuổi thanh xuân chẳng biết hoa trái là gì. Những cái cần câu khẳng khiu vươn lên giữa nắng. Giá như có quả cũng khó mà trèo. Giá như hái được quả cũng chưa biết lấy gì mà moi ra dầu, ra mỡ. Giá như có dầu then thì chế cách nào cho ra cái ê pô xi. Trong khi đó chị em ai cũng sẵn có ê pô xi. Cái mà nửa nhân loại được gọi theo cách phân giới là thằng trên thế gian này đều cần. Họ nghĩ rằng có anh cán bộ kỹ thuật là “nhân loại trong tay ta” rồi. Mùi đời với thiên chức làm mẹ đang phây phây từ đó.

Thế hệ hậu Bút Tre thừa kế tài năng tổ sư của mình mới góp nên rằng:

Cây then lúp xúp thấp cao

Tấm thân “nhân loại” chỗ nào cũng êm.

Ngày chi chưa đủ thì đêm

Ê pô xi của chị em sẵn sàng.

Gốc cây then, bờ suối trăng

Nông trường Tuần Giáo một thằng nhiều con.

 

Lai Châu, tháng 3 năm 1975, Hà Nội, tháng 3 năm 1978

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*