Home » Bài của bạn » CỬA LÒ QUÊ CHA

CỬA LÒ QUÊ CHA

PHƯƠNG HÀ

Biển Cửa Lò

Biển Cửa Lò

Tôi không gọi Cửa Lò là quê mẹ như bao người thường gọi, Tôi gọi cửa Lò là quê cha. Cửa Lò là quê cha bởi nhiều lẽ. Từ xa xưa đất này là đất vua phong cho ông tổ tôi cách tôi 12 dời. Quận công Hoàng Phúc Nhàn, cha truyền con nối cho đến ngày cách mạng tháng tám thành công, chính quyền nói đất đai là sở hữu toàn dân, nhưng đất là của chính quyền đến bây giờ mới thật rõ vì chính quyền mới có quyền cấp đất, bán đất. 

Còn một lẽ riêng nữa Cha tôi người làng Thu Lũng bây giờ là phường Nghi Thu. Còn mẹ tôi là người làng Nguyệt Tỉnh, bây giờ là xã Nghi Công Bắc miền tây Nghi Lộc, ngày đó cha tôi đưa gia đình đi sơ tán và lãnh đạo cướp chính quyền ở tổng Vân Trình gặp mẹ tôi đã hai sáu tuổi quá lứa lỡ thì nhưng còn mặn mà nhan sắc họ lấy nhau.

Quê cha nhưng cũng là nơi mẹ sinh ra tôi, một ngày đầu năm 1955 sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng tôi vẫn có tuổi tử vi là giáp Ngọ vì ngày lập xuân mới được tính sang năm Mùi. Người ta nói ngựa là khổ là chân chạy nó vãn đúng vào số tôi vậy, ngay từ bé tôi luôn phải đi xa, xa nhà, xa quê.

Chuyến đi xa đầu tiên mà tôi luôn nhớ đó là năm 1964, ngày đó chiến tranh ác liệt Mỹ cho không quân, pháo hạm bắn vào Cửa Lò như cơm bữa. Cha tôi là người lo xa nhà có hai anh em trai có chết thì chết một thằng thôi nên tôi phải đi sơ tán lên nhà dì ruột ở Nghi Công, vừa học lớp 4 vừa đi phụ chăn trâu một năm. Tùy cách nhà có 18 cây số mà sao xa xôi thế, xa xôi như thể ở hai đầu nỗi nhớ. Ngày nào tôi cũng trốn dì trèo lên ngọn rú Voi nhìn về phía biển nơi quê cha Cửa Lò để nhớ để mơ được sớm về với mẹ, với bà nội, với những thằng bạn nối khổ như thằng cu Út, thằng Sơn Bớng, thằng Thắng Thoàn…để được đánh đáo, đánh khăng được chơi dàn trận.

Chuyến đi xa thứ 2 là Hà Nội nó diễn ra đúng đêm 14 tháng 8 âm lịch năm 1968, ngày hôm đó cha tôi đã chở tôi bằng xe đạp từ Cửa Lò xuyên qua Nghi Lộc lên Đại Sơn, Trù Sơn huyện Đô Lương. Đích đến là xã Thái Sơn nơi có trạm liên lạc đưa đón cán bộ của ủy ban, Tỉnh ủy Nghệ An tên là trạm 21. Đó là một đêm trăng vàng đẹp như cổ tích trên chiếc xe đạp super global cũ kĩ cha tôi vừa đi đường vừa kể chuyện nhân tình thế thái, chuyện danh nhân, ông đã liên lạc gửi tôi ra Hà Nôi nơi có chị gái tôi đang là cán bộ đang làm việc ở Viện vệ sinh dịch tễ học Hà Nôi, mong tôi học thành tài và hơn nữa là tránh được bom đạn Mỹ, Ngày đó Mỹ hạn chế ném bom miền bắc Việt Nam  từ vĩ tuyến 20 trở vào. Tôi ở đó vài ngày với ông chú họ, chờ cho có một chuyến xe đị ra Hà Nội để được đi nhờ. Đêm đó trời sáng trong dưới ánh trăng thu vằng vặc, chiếc xe com măng ca trên xe có ông Chu Mạnh chủ tịch tỉnh và một vài ông cán bộ đi họp ở Trung ương cùng đi, xe chạy theo tuyến đường 15B xuyên qua vùng Tân Kỳ lên khe Lụi rồi ra Miền tây Thanh Hóa, Trên xe ông Chu Mạnh hỏi: “Cháu học lớp 7 rứa có biết tỉnh ta có mấy huyện không?”. Còn con nít mà tôi hỏi ngược lại ông: “Chú mần chủ tịch tỉnh mà không biết Tỉnh có mấy huyện à?”. Ông chặc lưỡi: thằng này khá.

Vâng xa quê lúc thiếu thời như vậy để nhớ về Cửa Lò quê cha. Nhớ lắm nhớ không thể nói thành lời được, chỉ mong được trở về được tắm ở Bàu Lối, được lao xuống biển Cửa Lò úp mặt vào biển mát quê hương.

Quê cha ở đây với tôi chính là lịch sử của làng Thu Lũng làng tôi hình  hình thang phíá măt biển phía đông là một cạnh có chiều dài hơn một cây sô rưỡi, song song phía tây là đường Quán Bánh Cửa Lò khoảng bảy trăm mét. Phía bắc là con đường quan đi xuống tượng Thánh giá xóm Yên Trạch ngày xưa là xã Nghi Thủy, Bây giờ là Phường Thu Thủy, còn Phía nam là đường Sào Nam. Đó là hình thể nôm na như vậy nhưng làng xóm vốn dĩ là đất đai ông bà tiên tổ khai khẩn, xâm canh mà hình thành. Ngày trước 1978 cả xã có mấy xóm Nam Liên, Tây Thông, Bắc Đại, Nam Đình, Nam Hòa, gần ven mé Biển có Cát Liễu, Hiếu Hạp, Đông Hải, Bắc Hải, Đông Khánh và Tây khánh, ở đâu cũng có bà con dòng họ nội ngoại từ đời này qua đời khác nên đi đâu cũng thuộc, tên đất tên người,

Ngày xưa khu nghỉ mát cũng chỉ vẻn vẹn có vạy, bây giờ mở rộng thêm một chút là một phần của Nghi Thủy, khu hành chính là đất nghi Hương, xuông dưới sân gôn là Nghi Hòa , Nghi Hải. Quê cha ở đây chính là những di tích lịch sử văn hóa còn sót lại sau bao biến cổ thăng trầm của lịch sử. mà cái chính là ta tự phá ta do ngu dột ít học mà ra, đình làng miếu mạo, lăng mộ bị trận bão chống phong kiến xây dựng nông thôn mới tàn phá tiêu điều.

Tuy chưa phải là vùng “Mạ vô sân, dân vô rú, đụ vô vòng”, nhưng với phương châm cách mạng “Một mo cơm một quả cà với tấm lòng cộng sản chúng ta quyết xây dựng Nghệ An thành công xã hội chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa cộng sản” của Ông Trương Kiện. Toàn xóm Nam Liên  được dời lên cồn kỳ xóm giữa phía Đông Quyền, Bắc Đại hệ sinh thái làng bị phá hại năng nề tàn hoang.

May mắn làng tôi còn giữ được đền Bàu Lối, đền này được khỏi công xây dựng từ triều hậu lê, thời ông tổ cách con trai tôi 9 đời là Hoàng Khắc Dũng (Dõng 1701-1776) tổng tri công ba triều Long Đức, Vĩnh Hựu và cảnh Hưng về hưu góp hai trăm quan tiền và công tiến cho làng năm mẫu ruộng “ Tứ mẫu phì điền, nhất mẫu ương điền” ( Bốn mẫu ruộng tốt. một mẫu nương quê tôi gọi là rộc) làng bán ruông góp tiền xây dựng, đến đời nhà Nguyễn con cháu trong làng đã trùng tu, nên hình hài đên ngày nay. Ngày xưa khi tôi còn bé đã được cha tôi dắt đến đền, tả cho tôi về hai cây thông già, hai cây Phượng và hồ bán nguyệt trước đền. Đền xây thế nào người sau ai cũng thấy rõ nhưng Đền thờ ai mới là vấn đề văn hóa. Đây là ngôi đền duy nhất có thể nói ở Vùng Nghệ Tĩnh thờ tứ tiên, Tứ bất tử thuần việt. Không thờ Phật không thờ tượng ông Hồ Chí Minh như trong đền có đặt như bây giờ

Quê cha chính là dòng họ.

Họ hoàng tôi phát tích ở Vạn phần và coi ông tổ tôn là Đông hải đại tướng quân sát hải đại vương người có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống nhà Nguyên xâm lược được nhà Trân phong thượng, thượng, thượng, đẳng thần…Đền thờ tiền nhân được lập trong Nam ngoài bắc Nhưng đến thời Lê họ Hoàng ông tổ tôi mới được phong đất ở Vùng Cửa Lò bao gồm từ Nghi Hòa, Nghi Hương, Nghi Thu bấy giờ đất Cửa Lò chính là của Quận công Hoàng Phúc Nhàn mà ra. Khi ông tổ cách tôi tám đời xây nhà thờ kỷ niệm ở Nghi Thu còn đôi câu đối: HOÀNG GIA KHỞI NGHIỆP CƯƠNG THƯỜNG TRỤ/ LŨNG ĐỊA PHONG QUANG KỶ NIỆM ĐƯỜNG. Nơi đây còn lưu giữ tấm bia đá có ghi HẬU THẦN BI KÝ được lập năm Cảnh Hưng thứ 16 Cảnh Hưng thập lục niên ghi nhận công đức của ông tổ cách tôi 8 đời Hoàng Khắc Dũng(1701-1776) tổng tri công ba triều Long Đức, Vĩnh Hựu, Cảnh Hưng thời hậu Lê dân gian gọi là ông Giá Hậu. Do Đệ tam giáp tiến sỹ cập đệ đệ tam nhân  Nguyễn Huy Oánh thảo cũng nói thêm một chút về Tiến sỹ Nguyễn Huy Oánh , ông chính là cha  của nhà thơ Nguyễn Huy Tự tác giả Hoa Tiên, ông đậu tiến sỹ khoa Mậu Thìn triều Lê, người có công lớn lập nên làng Trường Lưu, trên bia còn ghi rõ ông là người có tu hành « Thạch đồng cư sỹ, thượng thư bộ công ».Bia do  Đồng thọ nam tri phủ tạo lập. Bia này vốn đặt ở mộ phần ông tổ tôi nhưng nhưng năm sắp xếp lại giang sơn của ngài Trương Kiện mồ ông tôi bị đào phá, Cha tôi tìm cách đưa vào nhà thờ. nhờ vậy có đến ngày nay. Ở Làng Thu Lũng xã Nghi thu bây giờ hàng năm lấy ngày Ông tổ tôi mất làm ngày giỗ chung làng gọi là giỗ ông Gia Hậu, Tục giỗ này có đến sau năm 1945 thì bi bãi bỏ. Làng tôi còn có ông Phùng Phúc Kiều tướng công sinh sau ông Hoàng Khắc Dũng 20 năm ông cũng là con rể họ Hoàng có công trấn ải vùng biển từ Quỳnh Lưu tới Cửa Hội con cháu họ Phùng ngày nay lập đền thờ ông thờ ông trên phần mộ ngày xưa chôn cất ông có tấm bia đá quan võ trơ gan cùng tuế nguyệt.

Cách đây hơn trăm năm người Pháp đã phát hiện ra bãi biển Cửa Lò là nơi nghỉ mát lý tưởng Người Pháp khi cai tri nước Việt đã mở đường quan Nam Bắc, làm đường Hỏa xa, mở nhà máy diêm , nhà máy gỗ Trường Thi, họ đã nghĩ tới cảng Cửa Lò, Cửa Hội, Họ mở đồn điền khai khẩn vùng tây Nghệ An : Tây Hiếu, Đông Hiếu. Mùa hè nóng nực bởi mùa gió Lào nóng như lửa nung thì làn nước biển Cửa Lò mát rưỡi có thể làm tiêu tan cái mệt mỏi chết người. Nhưng không phải bãi biển nào cũng có thể là nơi nghỉ mát, Nó có tiêu chuẩn của nó, từ nước biển sạch, Bãi cát mịn màng còn một yếu tố cực kỳ quan trọng đó là an toàn, nơi đó không có đòi tức là không có nhưng rốn xoáy nước có thể cướp đi sinh mạng của nhưng người đến tắm biển  bất cứ lúc nào? Có vậy mà những việc nhỏ này đã được nhà nước bảo hộ Pháp  cấp quyệt định Cửa Lò là bải biển nghỉ mát du lịch. Cách đây mấy năm Chính quyền Cửa Lò đã tìm ra cái quyết định nói trên để công bố cho bàn dân thiên hạ biết mà công nhận. dân quê tôi thường nói đùa: Cửa Lò choa bãi biển cực kỳ tốt, Pháp hắn cũng phải công nhận chứ chẳng phải đùa !

Người Pháp ngày đó đem cây Phi Lao về trồng ở Cửa Lò đến những năm sáu mươi trước ngày 5/8/1964 có cây to hàng vài người ôm mới xuể, kiểm lâm Pháp, kiểm lâm ta đều ra sức bảo vệ cây rừng không có người cào lá, lá cây mục ruỗng làm phân bón cho cây tươi tốt. Khoảng sau năm 1960 Cửa Lò được xây dưng thêm hai dãy nhà 3 tầng đó là khu nghỉ mát của Quân đội nhân dân Việt Nam, nó nằm ở gần khu chợ đặc sản bây giờ. Đén nay chẳng còn vết tích nào nữa có chẳng chỉ là kí ức trong những người cao tuổi như chúng tôi mà thôi. Cửa Lò cũng có làm du lịch đó là sau năm 1970 Giao tế Của Lò được xây dựng. Đó là khu khách sạn nho nhỏ nằm ở gần Nhà nghi Công đoàn bây giờ. Khu này chủ yếu dành cho khách nước ngoài dân bản địa không được vào, ngày đó trong số người phục vụ, làm dịch vụ ở đó có cô Nhuần mình đã có lần ghé chơi. Năm 1979 Cha tôi được thành ủy thành phố Hồ Chí Minh mời đi thăm quan thành phố suất dành cho cán bộ lão thành xô viết 30, nhờ quen biết mà vào đây mua cho tôi được 3 chai rượu tây, hai chai mác Beehieu của Anh. Một chai vodka Ba Lan, đó là những kỉ niệm khó quên trong đời về hành trình của những chai rượu đó. Ngày xưa có những chuyện kể ra khó tin cười ra nước mắt năm 1974 anh rể tôi vừa tốt nghiệp đại học ở Liên Xô về nước hai anh  em đạp xe ra Cửa Lò chơi. Trời mùa thu đã lạnh thế mà vẫn thấy một ông Tây lao xuống biển tắm vô tư, khi vào bờ ông đến gần chộ hai anh em tôi dang đứng chơi, nghe ông nói anh tôi bảo ông ni người Nga, thấy vẻ mặt ông tây rất thiện cảm nên anh tôi cũng chào hỏi thăm người bạn Nga mấy câu, đây là một trung tá hải quân, phóng viên báo Sao Đỏ của quân đội xô viết. Câu chuyện chỉ có vậy mà hai anh em tôi bị những cán bộ anh ninh đi cùng làm khó dễ rằng không được nói chuyện với người nước ngoài, các anh ở mô nói những chi … May mà anh rể tôi lúc đó đã nhận công tác ở bộ quốc phòng và tôi đang là học viên của trường cán bộ kiểm sát những nghành rất được tin cậy nên thoát nạn.

Xưa nay ở cửa Lò người bản địa là chủ yếu, Cha tôi viết thư cho tôi vẫn viết dòng đầu tiên trên thư là « Cửa Lò chi xứ bản địa » Nghi Thủy, Nghi Thu, Nghi Hương , Nghi Hòa, Nghi Hải. Thỉnh thoảng mới có người nhập cư xâm canh đó là những gia đình có con gái nhưng không có con trai, anh em bà con phải về sinh sống chăm lo hương hỏa dòng họ, hoặc vài người ở rể mà thôi, Trong một xã chỉ có dăm ba nhà như vậy. Người nhập cư và tạm trú dài hạn trên đất Cửa Lò chính là đợt tập kết theo hiệp đinh Giơ neo năm 1954 quân của Việt Minh trở ra vĩ tuyến 17, quân của Pháp và những người theo chính quyền Pháp thì tập kết vào Nam đến 1955 đoàn cán bộ chiến sỹ Miền Nam đầu tiên theo tàu Pháp tập kết vào Cửa Hội chủ yếu là con em từ Bình Tri Thiên đến Phú khánh, Tuy Hòa, Cha tôi cũng được phân công làm cán bộ đón tiếp các chú bộ đội Miền nam, Họ đóng quân ở Cửa Hội, ở đình Nghi Thu và có thành lập một khu an dưỡng gọi là Khu an dưỡng Cửa Lò ở ngay phía đông núi Đụng Định cạnh con đường lớn về cảng Cửa Lò bây giờ, Tiếc rằng năm 1965 máy bay Mỹ đã oanh tạc xóa sổ trạm điêu dưỡng này. Điều này khiến cho nhiều thân nhân của đồng bào Miền Nam không thể tìm lại một số mồ mả của những người thân của họ chẳng may bị bệnh tật mất sớm, hoặc những người bị bom Mỹ sát hại, những người mà trong trí nhớ của chúng tôi như chú Hồng Kỳ, chú Tặng, v.v…

Đợt xâm canh thứ hai làm thay đổi sắc dân trên đất Cửa Lò chính là việc thành lập thị xã Du Lịch Cửa Lò cách nay gần 20 năm. Đã là đô thị lại là đô thị du lịch việc giao lưu hội nhập là chuyện tất yếu từ đó sắc dân Cửa Lò đã có nhiều thay đổi họ là con em Nghệ An làm ăn khá giả  từ Hà Nôi, Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác, ở từ các nước khác trở về mua đất xây khách sạn kinh doanh, Hoặc những người từ Vinh , Nghĩa Đàn, các huyện khác thấy Cửa Lò những cơ hội phát triển tốt mà đến đây lập nghiệp Họ đã tạo nên một Cửa Lò mới năng động và phong phú hơn. Lãnh đạo Chính quyền Cửa Lò cũng có nhiều sũy nghĩ đầu tư cho việc phát triển Cửa Lò cho tương lai Mong sao họ luôn nghĩ đến văn hóa du lịch làm sao sao Cửa Lò xanh, sạch đẹp và văn hóa. Họ sẽ nghĩ và đầu tư nhiều cho Cửa Lò, mở mang du lịch Hòn Ngư, du lịch tìm hiểu Văn Hóa như tìm hiểu ngôn ngữ Nghi Lộc Cửa Lò chẳng hạn…

Cửa Lò quê cha là nơi chôn rau cắt rốn, là nơi thấm đẫm tiếng quê hương Bây giờ đây ở tuổi mà tóc đã điểm sương bạn bè tứ xứ trở về Sum họp lâu lâu hàn huyên đọc cho nhau nghe kể chuyện cho nhau nghe mà sướng trong lòng. Nhớ một lần ngồi ở quán Lam Giang tiếp nhà thơ lưỡng quốc hội nhà văn Lâm Quang Mỹ ( Tức Nguyễn Đức Dũng tiến sỹ vật lý nguyên tử hội viên hội nhà văn Việt Nam và hội nhà văn Ba Lan) ven dòng Lam Cửa Hội. Thầy Thắng một bạn học cũ hồi cấp 3 Nghi Lộc 1. Nói «mi đi lâu đã nghe câu đối ni chưa?» :

Cửa Lò, Cửa Hội mần tội Cửa Mình.

Hòn Mắt, Hòn Ngư làm hư Hòn Dái (*)

mình bái phục sái cổ. Câu đối vừa chuẩn xác vừa thâm thúy vừa amua như chất quê vốn có, Cái thanh cái đẹp của chữ nghĩa làm mất hẳn cái tục vốn có của nó. Hắn thao thao kể chuyện nhà hắn ngày mới lấy cô vợ về ba ngày sau động phòng mà mặt vợ cứ buồn rười rưỡi, mẹ hắn gọi hắn đến dạy: mới cưới dâu về nhà mi phải biết «Mừng cho nó» (mò cho nứng).  Hôm sau thấy con dâu vừa rửa bát vừa hát «chưa có bao giờ đẹp như hôm nay» mẹ hắn nói mi làm học sinh ngoan hiểu ý tau  sau đi làm thầy giáo được, Mẹ hắn lại dạy « Đã làm con trai thì phải xác định đi ra đời lập danh với thiên hạ mần chi cũng phải «có chỗ đứng » phải có quyền mà sai, lợi mà khiến» về nhà cũng phải «có chộ đứng» (Cứng chỗ đó)  để vợ không bỏ nhà theo trai, hắn nghe lời mẹ mà thành thầy giáo tin học loại giỏi, kể ra cũng nên người.

Hắn lại kể những chuyện về du lịch Cửa Lò. Ông cán bộ ở Đô Lương dành dụm ít tiền đưa mụ vợ xuống Cửa Lò nghi dưỡng. Trăng thanh gió mát nam nóng thì điều hòa nhiệt độ. Nhưng đến bữa thanh toán thì bà hơi buồn vì số tiền vượt quá sự dự kiến của Bà. Bà về kể với làng giềng rằng : « Đi Cửa Lò thì sướng thật nhưng ở có mấy ngày mà mất cả lứa lợn con các bà ạ »

Cửa Lò quê cha đã thay đổi nhưng những con người giọng nói, con đường, những hàng phi lao, bãi cát mịn màng in những dấu chân con coòng gió vẫn khắc ghi trong trái tim tôi!

Cửa Lò chi xứ bản Thị xã 2012

(*) Vế đối được truyền tụng là của nhà thơ NTT.

10 thoughts on “CỬA LÒ QUÊ CHA

  1. Người VN Yêu Nước viết:

    Bài viết thì được, có cảm xúc. Nhưng sai nhiều lỗi chính tả quá (trừ một số từ địa phương tác giả cho vào bài cho phong phú).

  2. VIỆT HƯNG viết:

    Tui thấy dân gian vẫn tếu táo:
    “Chưa đi chưa biết Cửa Lò.
    Đi rồi mới thấy nó to hơn Cửa Mình “.
    Còn bây chừ thì biết thêm:
    “Cửa Lò, Cửa Hội mần tội Cửa Mình.
    Hòn Mắt, Hòn Ngư làm hư Hòn Dái “…

    1. ChâuDiên viết:

      Chưa đi…

      Cửa Mình tuy có hôi rình
      Nhưng mà đứng đắn! không linh tinh như Cửa Lò

  3. hào viết:

    Chào anh Tạo.
    Đọc bài này mới biết anh gốc ở Cửa Lò. Trước giờ cứ nghĩ anh ở Diễn Châu. Vì hồi ở Huế quen anh Chính (con ông Dần tỉnh đội trưởng BTT cũ) anh Chính nói anh chú của anh Chính ( em ông Dần), mà anh Chính lại nói là anh người Quỳnh Lưu hay Diễn Châu gì đó. Vậy có đúng không anh?
    Phiền anh một chút vậy, có gì anh đừng phiền nhé. Cũng vì hồi đó chơi thân với anh Chính, nghe cách nói chuyện hay mới nói anh có khiếu văn chương, anh Chính nói tao là cháu ông Tạo. Họ nhà tao có khiếu văn chương lắm.

    88888888888
    Bác Tạo quê Diễn Châu. Tác giả PHUONG HÀ người Cửa Lò bạn ạ.

    phụ tá

    1. Người VN Yêu Nước viết:

      Bạn “hào” đọc chưa kĩ ở phần bên trên: PHƯƠNG HÀ cơ mà?!

  4. Văn Đức viết:

    Cửa Lò và tôi
    .
    Thưa bác Trang chủ và Tác giả,
    Trang nhà có nhiều bài hay, nhưng tôi dừng nơi bài này vì Tác giả gợi nhiều kỷ niệm về thời gian và địa danh; Nhất là Cửa lò với lịch sử rất lý thú.
    .
    Trước hết, xin ghi lại cảm nhận về Cửa Lò là nơi lần đầu tôi gặp biển:
    .
    Cửa Lò
    198x, Nghệ An – Mùa thi

    .
    Lò đâu và Cửa ở đâu ?
    Đến đây chỉ thấy con tầu buông neo ;
    Mênh mang con sóng biển chiều,
    Gửi lên bờ cát thật nhiều tâm tư.
    .
    Những năm cuối 80’ là thời gian tôi „có duyên“ với „Hoan Diễn“ (mới tìm được trên internet: „Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu(驩州) cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê. … “). Qua những chuyến công tác, tôi biết vùng này không nghèo, trừ „gió Lào“ khá nóng. Mỗi chuyến đi như thế, dù ở nhà có ai dặn hay không, bao giờ về Hà Nội cũng phải mua mấy ký lạc Diễn Châu và mấy quả dưa chỗ giáp ranh Thanh Hóa. 🙂 ! …
    .
    Nói về „Hoan Diễn“, không thể không nhớ đến câu thơ nổi tiếng của Phật Hoàng Trần Nhân Tông:
    „Cối Kê cựu sự quân tu ký
    Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.“
    »
    Điều thú vị là, khảo lại câu thơ này, nay tôi mới biết đó là lời phê của Vua sau khi đọc kế sách do một Trạng nguyên người „Hoan Diễn“ dâng lên.
    .
    Tôi chia sẻ nhiều với hồi niệm về cảnh „bom rơi, đan nổ“ và kỷ niệm „người Cha đạp xe đưa con đi học xa“, vì có lẽ chúng ta là thế hệ có chung nhiều kỷ niệm; Nhưng … xin để dịp khác chăng?

    Thân mến.

  5. nobody viết:

    Hồi còn trẻ, tôi thường làm phu cho thợ xây nhà. Một ông thợ trong làng, tuổi chắc cũng ngoài 70 nhưng vẫn leo lên leo xuống rất nhanh nhẹn, tôi rất phục. Ông cũng kể chuyện rất khiếu. Theo ông, dân làng đồn ông Thụy (Đặng Văn Thụy), thời nhỏ đối đáp rất nhanh. Có lần cha ông ra câu ” Cá thu cá thủ cá đù đù”, ông hỏi đối với loài chim được không cha, được, và ông nói ngay ” cú tha cú thả cú đà đà”. Lại có câu khác lưu truyền: “Nho Lâm là làng Nho, Nho không học rồi Nho cũng duốt”, có người đối ” Lộ Cộ (Tên cũ làng Nho Lâm) có ông cụ, cụ mà còn đụ là cụ rủ cụ ru”, tôi cười, vậy phải ông không?
    Người ta đồn, ông cứ nhắc bà vợ, “khi tau còn sống lo ma mua cho tau ăn uống đàng hoàng, nếu tau chết, lằng xanh bu đầy mình mà đưa xôi thịt đến thì dị tu tát chết”.
    Một bà cụ đã già lắm, con gái nhà họ Cao lâu đời trong làng. Thời cải cách, bà có lòng thương những người bị đấu tố. Ai hỏi bà đi mô, Bà nói ngay “xuống địa đay!”.
    Có lần chủ tịch xã gọi bà lên ủy ban. Hồi đó, người ta nói là “xạ đòi”, vì bà không đóng thúê. Bà lên xã, rồi về. Có người hỏi, xạ đòi lên làm chi đó bà, bà bảo ” tau tưởng chính phủ là ai, chính phủ là chú phỉnh và cán bộ là cố bạn, tau tưởng chính phủ là ai, thằng lấy cháu tau”.

  6. Nobody viết:

    Có người đối với “ông cụ làng Nho”: Cửa Lò mà so cửa mình, lò mát mà rứa e thành lò tôn.
    Nhàn cư vi bất thiện.

  7. Nobody viết:

    Có đôi vợ chồng 3 con, tuổi đã sồn sồn, vào Cửa lò nghỉ mát. Lúc ăn picknik, vợ (Vĩnh Phú) bảo chồng “Anh ăn hết đi, em thôi, em lo lắm rồi”. Chồng, gốc miền Nam:” Ăn đi chứ lo cái gì!”, “Em lo cái bụng”, ” Chết, lại lo cái bụng, chắc hôm qua lại quên mang thuốc rồi phải không?” (chuyện có thật)

  8. Nobody viết:

    Thêm chuyên vui về bất đồng ngôn ngữ:
    Một du khách Mỹ tới thăm một trại bò ở Bayern (Đức). Nhìn thấy một công nhân, du khách chào: “Hallo Mister!” (Chào ông!)
    “Nein, ich bin nicht Mister, ich bin Melker.” ( Không, tôi không phải người dọn chuồng, tôi là người vắt sữa), người công nhân trả lời.
    Mister: tiếng Anh là ông, ngài. Mister tiếng Đức là: người dọn chuồng, dọn phân.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*