Home » Báo chí » 37 NĂM TÔI MỚI GẶP THIẾU KHANH

37 NĂM TÔI MỚI GẶP THIẾU KHANH

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Khoảng 1973-1974 tôi tình cờ có được tập thơ Trong Cơn Thao Thức của Thiếu Khanh. Tập thơ đã rách bìa, và cuối tập thấy ghi in ở Đà Nẵng 1971. Khi đó cuộc chiến tranh đang hồi ác liệt, tôi là bộ đội và Thiếu Khanh chắc là “lính Cộng Hòa” – vì thơ anh là thơ của một người lính. Tập thơ của anh hấp dẫn tôi vì sự chân thật đến nghẹt thở của một người lính chiến. Từ chuyện hành quân, nổ súng, ném bom đến tin vợ sinh con khi ba đang trong trận đánh đều được anh viết chân thật và và lay động tận tâm can. Lúc đó tôi cũng đã làm thơ, đã có thơ in báo và đang chuẩn bị in một tập thơ lính. Đọc Thiếu Khanh, tôi giật mình khâm phục, ước gì viết được những câu thơ gan ruột như anh. Những câu thơ đến giờ tôi còn nhớ:

“Ba thèm một lòng nôi suốt sáu năm lính thú
Có con ra đời làm chứng cho Ba
(Vì nếu không may mà Ba nằm xuống
Lấy gì xác nhận Ba đã có mặt trên đời!)”

Chỉ có người lính chiến mới nhận ra được cái điều tưởng như đơn giản ấy. Đạn bom đã cướp đi biết bao người lính trẻ “chưa một lần được hôn” (Phùng Quán), họ thành liệt sĩ hay thành vô danh trong suốt cuộc chiến tranh dài như là họ chưa hề có mặt trong đời. Bởi vì cuộc chiến thật khốc liệt, không biết sống chết lúc nào:

“Véo vào da thịt thấy đau
Da thịt còn đau – dấu hiệu sống còn”

Và cái nghịch lý chiến tranh đã tạo nên biết bao bi kịch người lính, kể cả tình yêu mà mình luôn nâng niu trân trọng:

“Anh đi ném bom xé nát trăm miền
Rồi về dưới đó mua cành hoa nhân tạo
Sáng mồng một Tết tặng em”

Những câu thơ chua chát và cay đắng thật hiếm có trong cuộc chiến!

Nhiều lần tới Đà Nẵng, tôi hỏi thăm xem có ai biết Thiếu Khanh không. Năm 1984, nhà thơ Đoàn Huy Giao (con rể nghệ sĩ Hoàng Châu Ký) bảo tôi là có biết anh nhưng không biết Thiếu Khanh hiện đang ở đâu. Rồi lâu quá, tôi nghĩ chắc anh vượt biên hoặc đi ra nước ngoài theo diện HO. Tuy vậy, thỉnh thoảng tôi vẫn đọc những câu thơ của anh khi nói chuyện về thơ lính. Những câu thơ luôn nhận được sự đồng cảm và thán phục của công chúng.

Mãi đến đầu 2010, trên một chuyến xe chở đoàn nhà văn từ Hà Nội đi dự Đêm Thơ Quốc Tế ở Hạ Long, tôi ngồi ghế trước anh ngồi ghế sau mà không hề biết nhau. Xe gần đến Tuần Châu tôi hỏi anh tên gì? Anh rất hiền từ nói tên là Thiếu Khanh, khiến tôi ngạc nhiên vô cùng. Và khi biết tên tôi anh cũng ngạc nhiên không kém. Hóa ra sau này Đoàn Huy Giao cũng đã kể cho Thiếu Khanh là tôi đã có lần tìm anh.

Tôi đọc thuộc những câu thơ gần 40 năm của anh, và anh gật gù đọc nối tiếp. Anh bảo nhiều bài thơ xưa anh không còn nhớ nữa, nhưng những câu thơ tôi thuộc thì anh vẫn nhớ. Hóa ra anh vẫn ở Việt Nam. Sau chiến tranh anh đi làm rẫy 22 năm rồi mới xuống Sài Gòn làm nghề dịch sách văn học, sách từ điển, và vẫn thầm lặng làm thơ. Thơ của anh vẫn nồng hậu và lãng đãng chất lính hào hoa xưa. Xưa “Yêu em ta bỗng thành thi sĩ/ Thơ lính hong ngời mắt mỹ nhân“, và nay thì: “Chỉ hai đứa mình cũng đủ thành giao hưởng/ Mỗi nốt vui khởi xướng cả trăm bè”.

Chúng tôi du thuyền ra Hạ Long, ngồi cáp treo lên Yên Tử rồi chụp ảnh kỷ niệm hai người lính hai chiến tuyến xưa, nhưng thơ thì không còn ranh giới nào cả, bởi thơ là điểm gặp nhau chung nhất của con Người.

Chiều nay tôi nhận được mail và tấm hình anh gửi. Lòng cảm động như nhận thư của người yêu. “Sự gặp gỡ của hai chúng ta trong dịp này khiến tôi hết sức xúc động, nó làm cho những ngày ở Hà Nội của tôi thật có ý nghĩa mà nếu trước đó tôi không đi dự chắc là tôi không biết mình đã đánh mất một điều gì. (Tôi đã định không đi dự hội nghị này vì … sợ không kịp hoàn thành một tác phẩm đang dịch dở dang. Về tới nhà tôi vội lao vào làm việc ngay cho kịp). Tấm ảnh Tạo gửi tôi, năm người chúng ta thật đẹp, và tất cả cùng rất vui. Tôi cũng gởi cho Tạo tấm ảnh chúng ta chụp ở núi Yên Tử. Tôi nhớ chúng ta có chụp một tấm ảnh nữa trước cổng Thiền Phái Trúc Lâm (?), nhưng tôi chưa tìm ra!”

Vâng 37 năm người viết và người đọc mới gặp nhau mà như đã chơi với nhau từ lâu lắm…

Hà Nội, 21.1.2010


37 năm mới gặp nhau.

5 nhà thơ: Nguyễn Hoa, Thiếu Khanh, Hoàng Hưng, Nguyễn Trọng Tạo, Hữu Thỉnh.

THIẾU KHANH: Tên thật Nguyễn Huỳnh Điệp. Sanh năm 1942. Tại Bình Thạnh, Tuy Phong – Bình Thuận. Hiện cư ngụ tại Sài Gòn.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

·  Thơ: Khơi Dòng (chung với Thu Lâm và Nguyên Thi Sinh, Montreal Canada 1968)

·  Trong Cơn Thao Thức (Da Vàng – Đà Nẳng, 1971). Tác phâm được in tại Đà Nẵng vì đó là quê hương người bạn đời của nhà thơ.

·  Một số tác phẩm dịch thuật, Từ Điển Cụm Từ Việt-Anh (ký Nguyễn Huỳnh Điệp).

 

 

 

25 thoughts on “37 NĂM TÔI MỚI GẶP THIẾU KHANH

  1. PNT viết:

    Cuộc gặp mặt của hai nhà thơ hai chiến tuyến xưa thật tuyệt với bác nhỉ. Nếu anh lính nào cũng như các nhà thơ với nhau thì em tin là không có chiến tranh xảy ra.

    Mấy câu thơ bác trích đọc xao cả ruột gan. Ảnh các bác cũng thật đẹp và tưng bừng như cuộc gặp gỡ vậy. Xin chúc mừng hội ngộ của các nhà thơ.

    1. nguyentrongtao viết:

      Cám ơn chú. Trong tiệc chiêu đãi ở Tuần Châu tôi đã giới thiệu anh Thiếu Khanh và đọc những câu thơ gan ruột của anh. Nhiều người chưa hề đọc thơ anh rất ngạc nhiên. Và ngạc nhiên hơn nữa là tôi đã thuộc những câu thơ như thế từ trong cuộc chiến.

  2. vandinhhung viết:

    Tôi có một lần được dẫn một anh bạn về từ Canda đến nhà Nguyễn Trọng
    Tạo. Tên anh là Huỳnh Khôi, bút danh là Quế Sơn. Tôi biết anh qua nhà
    thơ quá cố Trịnh Thanh Sơn. Khi chúng tôi đến nhà anh NTTạo, anh Quế Sơn đọc ngay hai câu thơ NTT viết năm 1968. “Không thể không tin gì mà viết/ Tin thì tin không tin thì thôi ‘.
    Ngày ấy nếu tính thời gian thì câu thơ được anh sinh viên Việt Nam Cộng Hòa đọc thơ của anh lính
    cộng sản cũng có bề dày 32 năm, thua cuộc này 5 năm.
    Không hiểu Thơ đến từ đâu cho những cuộc hội ngộ thật đẹp này nhỉ?

    1. nguyentrongtao viết:

      Hùng nhớ sai thời gian của bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi ” ra đời. Đó là năm 1993 chứ không phải 1968.
      Cám ơn Hùng đã nhắc lại để nhớ Quế Sơn dịch giả và TTS.

  3. Ngọng lưỡi viết:

    Ng­ười ta thường đánh mất những thứ vô giá mà không hay biết. Thật may là NTT được trời xui khiến đã tìm được TK sau 37 năm. Xin chúc mừng NTT, xin chúc mừng TK.

    Một người đọc

    1. nguyentrongtao viết:

      NL nói đúng. Chắc cuộc gặp gỡ do trời xui khiến. Chúc bạn vui và thỉnh thoảng ghé lại với tôi nhé.

  4. FAN NGUYEN TRONG TAO viết:

    Bài quá hay.

    Không một lời (hàm ngôn) nào được nói ra, nhưng nó lại thể hiện sức mạnh của Thơ.

    1. nguyentrongtao viết:

      Fan ơi, hóa ra tôi cũng yêu thơ lắm nên mới làm thơ nhỉ.

      Tặng Fan mấy câu thơ về lính:

      Những người lính đi qua thành phố
      Màu áo xanh dễ nhận giữa bao người
      Màu áo xanh gần gũi chợt xa vời
      Lại chợt hiện vội vàng qua năm tháng

      Những người lính dễ làm ta xúc động
      Mắt long lanh đứng ngắm dãy nhà cao
      Ba lô sau lưng như cùng ngước nhìn theo
      Ngỡ thành phố nghiêng mình giây phút ấy

      Cổng vườn hoa nhiều lần ta bỗng thấy
      Màu áo xanh người lính lẫn bóng màu
      Lẫn lứa đôi cười nói dắt tay nhau
      Anh háo hức bước lên xe điện cũ

      Những người lính đi qua thành phố
      Người trẻ măng, người tóc bạc phơ
      Chân dép lốp hay chân giày cao cổ
      Chẳng nhiều đâu nhưng chưa vắng bao giờ…

  5. pthao viết:

    TKhanh có được tri kỷ từ bên kia chiến tuyến NTTạo kể như cũng không uổng kiếp sống này.
    Cuộc hạnh ngộ vô cùng đẹp
    “Chỉ hai đứa mình cũng đủ thành giao hưởng
    Mỗi nốt vui khởi xướng cả trăm bè”.
    Thơ văn quả là kỳ diệu

    1. nguyentrongtao viết:

      Theo địa chỉ pthao tôi đã tới blog của bạn. Một blog văn chương đầy thú vị. Cám ơn bạn và chúc bạn năm mới mạnh khỏe, sáng tạo và hạnh phúc.

      1. pthao viết:

        Cảm ơn anh. Tình cờ biết được nhà anh, tối hôm qua xới tung cả nhà anh lên, thật thú vị. Loay hoay đến hai giờ sáng mới đi ngủ.
        Chúc anh vui và có thêm thật nhiều hạnh ngộ trong đời.

      2. Joseph hauser viết:

        thú vị nhất là biết con người thật của pthao nữa ,mời chiêm ngưỡng người viết văn thú vị này.

        From: [email protected]
        Subject:
        To: “Phu that ton”
        Date: Wednesday, April 30, 2008, 2:48 AM

        Ba,
        May hom nay SG mua gio bap bung. Thuong thi thang 4 nang nong lam nhung ca ngay hom nay mua tu sang den gio, lam tham nhu mua Hue .
        Con voi anh Dung vua di chong them mot mo tien nua cho can nha moi.
        Tui con van dang cho ban can nha cua anh Viet thi moi co tien giao cho nguoi ta. Luc nay kte VN dang suy thoai, lam phat tram trong nen nha cua kho ban.
        Neu moi chuyen suong se thi het thang Nam ho giao nha, con sua sang mat ca thang nua, hy vong don vo truoc khi di My choi. Neu khong kip thi di My ve
        roi don nha cung duoc.
        Hai dua den khoang cuoi thang Nam thi nghi he. Con se cho tui no di Quy Nhon choi cung voi bon nho cua Co Nhi Vien Vinh Son, Kontum.
        Tien di choi bien may ong My da chuyen ve 4,000 usd roi. (Con muon truoc dem di coc tien nha het roi). Den luc do se xoay cho khac. Lam cho cai hoi nay nhieu khi
        cung do lam. Sau do tui no se hoc he tu 15/6 den 15/7 la chuan bi di My choi.
        Vai hang ong ba ngoai biet tin cho vui. Con ngung hi.
        A con co head phone roi. Khi nao ranh se nhan ong ngoai noi chuyen choi.
        Bambi

        From: [email protected]
        Subject:
        To: “Phu that ton”
        Date: Wednesday, Jan 9, 2008, 9:48 AM

        Ong ba ngoai thuong nho,
        Hai chau ngoai vui mung bao ong ba ngoai biet la ket thuc hoc ky 1 ca hai dua CaNa XiMuoi deu duoc xep loai hoc sinh gioi. Diem thi Toan va Tieng Viet cua ca hai deu duoc 10. Hai dua mang ve nha khoe me 4 con 10 to dung dung.
        Hom qua con noi chuyen voi cau Lo, qua Yahoo Messenger, cau noi la da du duoc ong ngoai xai Laptop roi. Cau se mua cho ong ngoai mot cai Laptop de noi chuyen qua Yahoo Messenger voi con khoi ton tien dong thoi surf web biet thoi su mau hon ca bao nua.
        Toi nay ba me con se di an com toi voi “anh Joe” va hai nguoi ban My nua, mot nam mot nu. Trong do co tay Ashley Wilkies nao do ma anh Joe muon lam mai cho con. Ong ba ngoai hay doi day, cho xem. Hai dua CaNa XiMuoi nghe dau la co ca hai vali qua cua may bac ben My goi bac Joe cam ve cho.
        Mai mot ba co Laptop cua cau Lo cho thi communicate se nhanh chong, thuan loi va re nua. Co khi luc do thi thu viet tay se di vao “di dang”.
        Ong ba ngoai giu gin suc khoe. Ba me con ben ni van an ngu deu, ngon mieng va khoe manh. Khach My nao qua, Bi ung nha hang nao la cu dan di an thu suong mieng thoi.
        Sinh Nhat Zp co cau Lo ve choi nua phai khong? Vui hi. Chuc ca nha vui ve.
        Con gai Bambi

        Thao Ton wro te:

        Ba me thuong nho,
        Ba me con vua di choi 10 ngay ve. Di mot vong tu PK KT roi ra Da Nang va Hoi An choi luon.
        Hoi An dep va nen tho. Con co dua hai dua ra bai bien Cua Dai tam mot ngay, di long vong pho
        co mot ngay va di tham thap Cham My Son sau trong rung mot ngay. Pho co Hoi an va quan the
        thap My Son duoc UNESCO bao ton va trung tu. Co may ong Tay died o do roi.
        PK thi mua dam, KT cung mua nhung do hon. Con tu dung co job vua duoc an vua duoc choi, vua
        co tien vua co tieng (cua nguoi phuc ta) va lai duoc di du lich mien phi.
        Con co san ve cua may ong ban gia mua cho roi, hai ve lan, ung di My khi mo thi di,
        ve cua UAL (United Airline).
        Thoi con ngung hi. Ba me giu gin suc khoe.
        Bambi.

  6. tranngoctuan viết:

    Anh Ơi!
    Bài viết của anh về nhà thơ TK làm em khóc (khóc như chưa hề được khóc). Em cám ơn anh nhiều lắm.

    TB: Nhớ thơ anh Bùi Minh Quốc…” Chỉ có thơ thôi/ Với cường quyền đối mặt/ dân tộc này đang vỡ nợ tự do/ Ôi! Em gái Trường Sơn 18 tuổi? Em nghĩ gì sau cặp mắt kiên trinh?/ Em nghĩ tới tương lai tương lai tươi thắm ngọt lành/ Tương lai ấy giờ anh sống dở/ Quay mặt vào đau cũng phải ghìm cơn mửa/ cả một thời đểu cáng đã lên ngôi…”

    Năm mới em chúc anh viết nhiếu. Và thằng em của anh bao giờ cũng yêu quý anh.

    Em
    Trần Ngọc Tuấn.

  7. Thiếu Khanh viết:

    Cám ơn tình cảm và lời chúc mừng tốt đẹp của các bạn dành cho sự “tao ngộ” hiếm có của hai chúng tôi mà nó đã khiến bản thân tôi hết sức bồi hồi xúc động. Cái tình của Nguyễn Trọng Tạo, một người làm thơ cầm súng, dành cho tôi, một người làm thơ cầm súng khác ở phía đối diện mà anh không biết mặt từ 37 năm trước, tự nó đã là một bài thơ có lẽ đẹp hơn mọi bài thơ viết về tình tri âm tri kỷ người ta đã viết từ trước đến nay. “…hai người lính hai chiến tuyến xưa, nhưng thơ thì không còn ranh giới nào cả, bởi thơ là điểm gặp nhau chung nhất của con Người.” (NTT). Ngoài điều đó ra, chúng tôi – chúng ta – còn có một điểm chung lớn nhất: Chúng ta là người Việt Nam. Chúng tôi gặp nhau trong thơ nhưng chính là gặp nhau trong tình tự dân tộc ấy.
    Các bạn có thể đọc tập thơ “Trong Con Thao Thức” ở đây:
    http://www.luanhoan.net/thoVN/ThoToanTap/pdf/thoThieuKhanh.pdf

    Và đây là bài thơ “Hạnh Phúc Chúng Mình” cho Catbien gặp lại hai câu thơ mà anh đã trích theo NNT:
    http://phanchautrinhdanang.com/BAIVO/Hanhphucchungminh.htm

    Thiếu Khanh

  8. Đọc bài ni thấy tiếc là bỏ cuộc, không đi Hạ Long. Thằng em chúc mừng anh Tạo. Cái hội nghị này không biết thành công đến đâu nhưng riêng với anh Tạo thì lãi lớn. Kể như là anh đại đại thành công. Khe…khe….

    1. nguyentrongtao viết:

      Hi hi chú Tiến. Nói chung thì mọi hội nghị đều “thành công tốt đẹp”.
      Riêng bộ cánh của chú xuất hiện cũng đã làm sáng cho hội nghị rồi.
      Hẹn hội nghị sau sẽ “thành công mỹ mãn”… ha ha

  9. Sơn Triều viết:

    Anh NTT và anh TK kính mến,

    Đọc bài viết về cuộc gặp của hai nhà thơ Việt tri âm trong 37 năm lòng tôi rất xúc động. Tôi là một người hoàn toàn không có năng khiếu về thơ, nhưng tôi rất yêu cái đẹp của thơ, vì tôi nghĩ những bài thơ luôn nói lên nỗi lòng và cảm xúc thật của nhà thơ.

    Hai anh kính mến,

    Đọc bài viết của anh NTT trong lòng tôi vừa xúc động vừa vang lên hai tiếng “tại sao”. Xin mạn phép chỉ nói lên suy nghĩ của mình, ngoài ra không có ý gì khác.

    Tại sao dân tộc Việt có những tâm hồn đẹp và nhân ái như các anh và còn nhiều nữa lại phải trải qua bao cuộc xung khắc triền miên, cho đến tận bây giờ.

    Tại sao, với những con người Việt như các anh và tôi tin những người lính khác cũng như vậy, dù ở chiến tuyến nào, cũng đều có tấm lòng của con người Việt, lại phải lao vào cuộc chiến, và tại sao lại xảy ra cuộc chiến này.

    Tại sao, cái đẹp, cái nhân ái đó, chắc chắn làm cho con người sẽ sống có ý nghĩa hơn, đẹp hơn dù có nghèo, chỉ hiện diện rất ít trong cuộc sống hàng ngày, trong lúc nhiều điều ngược lại thì ở đâu cũng gặp. Trong mỗi con người cũng vậy, phải nén lại những nỗi niềm chỉ để thổn thức, còn cũng phải sống cuộc đời trần trụi này.

    Thật sự đọc bài của anh NTT tôi vừa cảm động, vừa hỏi tại sao và vừa rất buồn.

    Kính.

    N.H. Sơn
    Người Huế có biết đến anh NTT.

    1. Ngọng lưỡi viết:

      Xin chào bạn N.H.Sơn. Đúng là gặp nhau trong nhà của NTT thấy toàn những người mang nặng nỗi niềm “tại sao”. Buồn hơn cả là chính mình hình như cũng thích nghi và hình như cũng quen dần với cuộc sống không cần biết “tại sao”.

  10. TÌNH VĂN NGHỆ

    THIẾU KHANH
    (Chuyện kể bên lề Hội nghị Quốc tế Giới thiệu Văn học VN)

    Vào khoảng cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, tôi nhớ mang máng có đọc trong tạp chí Văn Hóa Ngày Nay của ông Nhất Linh một câu chuyện cảm động về tình cảm phát sinh từ tinh thần văn nghệ giữa hai quân nhân thuộc hai chiến tuyến đối địch nhau. Dường như chuyện cũng do nhà văn lớn ấy kể. Thời gian quá lâu, tôi không còn nhớ được nhiều chi tiết câu chuyện, đại khái là chuyện xảy ra trong Thế chiến thứ nhì. Một sĩ quan Mỹ bị quân Nhật bắt làm tù binh tại một trại tù thuộc quyền “quản giáo” của một sĩ quan Nhật nổi tiếng khắt khe mà sau lưng ông ta các tù binh đều gọi là “Ông pằng-tà-lồng-ộp “. Thời đó binh sĩ Đồng Minh không may rơi vào tay các quân đội phe “Trục” thì cầm chắc sự mỏng manh của hy vọng còn sống sót trở về. Theo sử gia quân sự người Anh John Keegan trong tác phẩm A History of Warfare , trong số năm triệu lính Hồng quân trở thành tù binh của Đức trong Thế chiến thứ hai đã có đến hơn ba triệu người chết vì bị hành hạ, tra tấn hay bạc đãi. Số tù binh đồng minh trong tay người Nhật đã bỏ mạng vì lý do tương tự là bao nhiêu thì nhất thời tôi không có con số chính xác, nhưng nếu ai đã xem cuốn phim “Cầu Sông Kwai” (The Bridge on the River Kwai, khoảng 1957) thì có thể hình dung được phần nào số mệnh nghiệt ngã của những người lính không may đó; và sự tàn bạo nổi tiếng của binh lính người Nhật đối với các dân tộc nằm dưới quyền kiểm soát của chúng trong cuộc chiến tranh cũng được sử gia người Anh nói trên ghi nhận – mà ngoài ông ta ra có lẽ không ai, nhất là ở các quốc gia Đông Nam Á, không biết điều đó. Thế nên hy vọng sống sót trở về của những người tù binh này cũng không nhiều hơn những người tù binh Liên xô trong tay quân Đức. Người tù binh sĩ quan Mỹ trong câu chuyện này cũng gặp hoàn cảnh tương tự như thế.

    Mỗi người trong đời mình có thể có nhiều điều đáng tiếc. Một trong những điều đáng tiếc của tôi là không nhớ đầy đủ diễn tiến của câu chuyện về “ông pằng tà lồng ộp” này. Tôi chỉ có thể kể lại vài điểm chính: Trong một sự tình cờ nào đó, hai quân nhân thuộc hai phe đối địch nhau trong hoàn cảnh ở trại tù binh đã trớ trêu nhận ra cả hai cùng là nhà thơ. Tuy nhà thơ sĩ quan tù binh người Mỹ không biết nhà thơ sĩ quan cai tù người Nhật, nhưng nhà thơ người Nhật thì biết tên nhà thơ người Mỹ kia. Hai người trao đổi vài ý kiến với nhau về thi ca, và dần dần họ không những không còn thù oán hay khinh bỉ nhau nữa mà cùng tỏ ra kính trọng nhau. Cái hậu của câu chuyện là thi ca, hay tinh thần văn nghệ của những con người có văn hóa cao, đã khiến cho hai người lính đối đầu nhau ở chiến trường và trong hoàn cảnh đối chọi nhau trong trại tù binh đã trở thành hai người bạn tri kỷ và tương kính nhau.

    Trong những năm cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam cũng xảy ra một câu chuyện có phần nào tương tự như thế giữa một nhà thơ cầm súng miền Bắc và một nhà thơ cầm súng miền Nam .

    Trong chương trình của Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học VN tại Hà Nội vào đầu tháng 1/2010 có một đêm Thơ Quốc tế tổ chức tại Quảng Ninh. Khi đoàn xe đưa các nhà văn nhà thơ và dịch giả từ Hà Nội ra dự đêm thơ đó sắp đến Tuần Châu, một người đi chung xe ngồi ghế ngay trước mặt tôi đứng lên quay ra sau nói chuyện với những người phía sau và nhân đó anh hỏi bút danh của tôi là gì. Tôi nói mình là Thiếu Khanh. Anh ấy tỏ vẻ ngạc nhiên, và nói, “Còn tôi là Nguyễn Trọng Tạo. Anh Thiếu Khanh, gần bốn mươi năm trước tôi đã đọc thơ của anh!”

    Tôi rất bất ngờ và rất xúc động, tuy từ năm 1985 tôi đã được biết “nhà thơ miền Bắc” này đã đọc thơ tôi từ lâu trước đó. Khi về thăm quê vợ ở Đà Nẳng vào năm 1985, tôi được một người bạn thân là nhà thơ đạo diễn truyền hình Đoàn Huy Giao nói cho biết: “nhà thơ miền Bắc” Nguyễn Trọng Tạo đọc tập thơ “Trong Cơn Thao Thức” của tôi (xuất bản tại Đà Nẳng năm 1971, ba năm sau khi tôi rời quân ngũ của “lính cộng hòa”) và thích nhiều bài thơ trong đó nên mỗi lần có việc vào Đà Nẳng anh đều có ý hỏi thăm những người quen biết để tìm tôi, nhưng bấy giờ tôi không còn ở Đà Nẳng nữa, và Đoàn Huy giao cũng không biết tôi ở đâu. Tôi rất cảm động khi biết mình có một độc giả tri kỷ. Nhưng nghe và biết vậy thôi chớ một người trong Nam một người ngoài Bắc thì làm sao mà gặp nhau được. Ấy là chưa kể có thể có nhiều điều không thuận tiện cho một cuộc gặp gỡ nhau trong hoàn cảnh cuộc sống thời đó. Rồi tôi quên đi. Thế mà không ngờ hai chúng tôi đã “hội ngộ” ghế trước ghế sau trên cùng một chiếc xe trong đoàn xe tám chiếc của chuyến đi này. Mà tôi từ Sài Gòn ra Hà Mội tham dự hội nghị với tư cách một dịch giả, chớ không phải một nhà thơ.

    Và ngay lúc đó, nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo kể cho mọi người trên xe nghe anh đã có dịp đọc thơ tôi từ năm 1973, hai năm sau khi tập thơ được xuất bản, đến bây giờ hai người chúng tôi mới có dịp gặp nhau. Ai cũng ngạc nhiên. Nhưng điều khiến tôi xúc động hơn hết là Nguyễn Trong Tạo đọc ngay cho nhiều người chung quanh cùng nghe những bài thơ, câu thơ trong tập thơ “Trong Cơn Thao Thức” của tôi mà anh vẫn còn thuộc sau ba mươi bảy năm!

    Những chuyện sau đó thì Nguyễn Trọng Tạo kể lại một cách cảm động trong bài viết “37 năm tôi mới gặp Thiếu Khanh” trên blog của anh (http://nttnew.vnweblogs.com/post/14517/210547) ít lâu sau khi tôi đã trở về Nam.

    Dường như có ai đã nói “Giai nhân dễ gặp, tri kỷ khó tìm.” Nếu đúng như thế tôi đã có một hạnh phúc rất lớn trong tư cách một người làm thơ. Chính tác giả của nhiều thi phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Ba Lan, và nhiều nhạc phẩm nổi tiếng trong đó nhạc phẩm “Làng quan họ quê tôi” của anh hầu như không ai yêu ca nhạc mà không từng nghe hay biết, và từng được dàn nhạc giao hưởng Leigzig trình tấu, đã dành cho tôi niềm hạnh phúc đó. Có lẽ có thể coi đây như một giai thoại. Và giai thoại này xác nhận thêm vẻ đẹp trong nhân cách một nghệ sĩ lớn. Đó là nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo.

  11. Comment của Lại Quảng Nam:

    anh Thiếu khanh thân mến

    bây giờ Nguyễn trọng Tạo là nhà thơ có lẽ là nhà thơ có tư cách nhất dưới mắt tôi

    Trong blog của anh NTT có nhièu bài dọc rất tới

    Thân ái

    lqn

  12. Thư của Thiếu Khanh:

    Lại Quảng Nam thân mến,

    Ở cuối bài viết “Tinh Văn Nghệ” của tôi trên Newvietart.com (http://newvietart.com/index395.html) tôi viết “Và giai thoại này xác nhận thêm vẻ đẹp trong nhân cách một nghệ sĩ lớn. Đó là nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo.” Chỉ đọc hời hợt phớt qua bài viết người ta có thể mỉm cười với câu kết luận này: tác giả nói quá đáng. Chỉ vì anh ấy đọc thơ của mình mà mình cho anh ấy là nghệ sĩ lớn có nhân cách đẹp sao? Nếu giản dị chỉ vì vậy, cả người viết lẫn đối tượng cũng tầm thường mà thôi, không có gì dặc biệt đáng kể.
    Cuộc chiến tranh VN cho đến nay, sau ba mươi lăm năm “Mỹ cút ngụy nhào”, vẫn cứ là một cuộc “chiến tranh giải phóng” trên danh nghĩa. Chưa nơi nào và chưa có ai trong giới có “thẩm quyền” hiện nay nói khác (cho dù “ta” vẫn luôn ra sức lấy lòng “thằng Mỹ đế quốc”, cố gắng níu kéo nó lại với ta – nó mà không chơi với ta thì ta điêu đứng ngay – nghĩa là ta tự bôi xóa những lời chửi rủa đế quốc Mỹ xấu xa, hoặc tự biến cái chuyện “đánh cho Mỹ cút” trở thành huyền thoại). Từ 37 năm trước Nguyễn Trọng Tạo đã (có thể) nghĩ khác với luận điệu tuyên truyền “chính thống”, hoặc anh nhìn thấy bản chất thực sự của cuộc chiến mà trong đó tôi là người cầm súng ở phía đối nghịch với anh khi anh đọc thơ tôi. Như cái tựa “Trong Cơn Thao Thức”, tôi “thao thức” về thân phận con người VN trong cuộc chiến tranh mà nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn cho là “tai trời ách nước.” Tôi không thấy một chính nghĩa giải phóng (mà bây giờ đã bắt đầu khiến cho nhiều người cảm thấy lúng túng) nào hết mà chỉ thấy

    Khi lưỡi cuốc bổ xuống mặt đường

    Đắp mô xây ụ

    Đào xới tan hoang

    Khi quả mìn đặt dưới chân cầu

    Đặt bên lối đi

    Đặt ở đầu giừơng

    Đặt trong giấc ngủ

    Nổ tan!

    Khi ngọn lửa cất lên mái tranh

    Nhân danh giải phóng

    Khi viên đạn “mọt chê” rơi xuống giữa nhà

    Nhân danh bảo vệ bình an

    Khi người đè người

    Đập lên đầu nhát búa thù hằn

    Nhân danh tranh đấu

    Khi người trói người

    Nửa đêm dẫn ra đồng hạ sát

    Nhân danh tòa án nhân dân

    Khi những thi thể trần truồng

    Trôi sông trôi rạch

    Vết chém

    Vết đạn

    Vết đâm

    Nhân danh những luận điệu mù mờ

    không chung lý tưởng

    Có an ổn gì đâu mà anh ngồi viết thư tình tự yêu em!

    (TCTT – Nói với người tinh)

    Hay:

    Buổi sáng ở trại tạm cư

    Nghe nói đánh nhau hai mươi năm nữa

    Bom đạn và tiền

    do đồng minh hai bên viện trợ

    Phần chúng ta chỉ góp máu xương

    (TCTT – Buổi Sáng)

    Dĩ nhiên Nguyễn Trọng Tạo quá biết cái ý tưởng “đốt sạch Trường Sơn” và “đánh nhau hai mươi năm nữa” phát xuất từ đâu, và ý tưởng về cái trò chơi dã man của “hai bên đồng minh” trên xương máu của dân tộc ta là một điều mang tính “phản động” và “không phù hợp” với ý nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng. Trong tập thơ đó tôi nói lên cái điều mà đối với tư tưởng chính thống của miền Bắc lúc đó – có lẽ mãi đến nay – là một điều cấm kỵ lớn đến nỗi chỉ một bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan đã khiến ông bị trù dập và đày ải (thậm chí bị mưu giết, theo lời kể lại của chính nhà thơ ấy), và nhà văn Phù Thăng cũng bị “thất sủng”, hơn thế, bị “gạt tên” khỏi giới văn học và văn nghệ chỉ vì sự cảm nhận mang tính nhân bản của một nghệ sĩ trung thực trong tiểu thuyết “Phá Vây” (?) của ông, đã tỏ ra thương tiếc những con người trai trẻ hồn nhiên và lực lưỡng là những dân cày rất cần cho đồng ruộng mà ngày mai sẽ phải ra trận và có thể vùi thây ở đó. (Những câu thơ Phùng Quán “Em ơi rất có thể Anh ngã xuống chiến trường. Đôi môi tươi đạn xé. Chưa một lần được hôn. Nhưng dù chết em ơi. Yêu em anh không thể. Hôn em bằng đôi môi. Của một người nô lệ ” đâu phải có thể được tác giả viết ra một cách dễ dàng và phổ biến cho mọi người cùng được đọc mà không bị ai làm gì mình như tôi và tất cả các văn nghệ sĩ khác đã làm được một cách thoải mái ở miền Nam đâu.)
    Khi Nguyễn Trọng Tạo nhắc đến những câu thơ của tôi (sau 37 năm anh nhớ không chính xác):

    Buổi sáng chui ra khỏi hầm trú ẩn

    Vỗ vào đầu thấy đau

    Ngắt vào thịt thấy đau

    Da thịt nghe đau:

    dấu hiệu sống còn.hoặc

    Ba thèm một lòng nôi suốt sáu năm lính thú

    Có con ra đời làm chứng cho Ba

    (Vì nếu không may mà Ba nằm xuống

    Lấy gì xác nhận Ba đã có mặt trên đời!)
    thì những câu thơ đó đâu phải chỉ có ý nghĩa bi thảm với những con người ở miền Nam mà người miền Bắc được “miễn nhiễm” trong cuộc chiến tranh này. Con người VN nói chung ở cả hai miền đất nước đều chịu chung thân phận bi thảm đó. Với “Đôi môi tươi đạn xé. Chưa một lần được hôn,” nhà thơ Phùng Quán đâu có ngụ ý dành riêng cho thanh niên miền Nam hay thanh niên miền Bắc cái nghiệt ngã đau thương đó. Sự nghiệt ngã đó chung cho người VN. Chắc chắn Nguyễn Trọng Tạo không hề “vô tình” không cảm nhận điều đó khi đọc thơ tôi. Tôi không muốn dùng chữ “dũng cảm” gán cho anh, dù vào thời điểm 37 năm trước anh còn rất trẻ, dưới tuổi ba mươi, tương lai sự nghiệp rực rỡ của anh còn rất dài ở phía trước, mà cái việc anh đọc và thích thơ của “kẻ địch” với những tư tưởng “không phù hợp” như vậy là một sự dũng cảm, cực kỳ dũng cảm, trong một môi trường khó khăn đặc biệt không dung chứa những bộ óc suy nghĩ độc lập như anh. Nếu không diễn dịch hợp lý cho sự ưa thích của mình anh có thể phải đối mặt với nhiều khó khăn bất trắc vì có thể bị gán ghép “phản động” hoặc chí ít cũng là “tư tưởng không ổn định”, v.v… Nhưng tôi không muốn dùng từ “dũng cảm” đối với anh vì từ này đã bị dùng nhiều quá đến mức sáo mòn tơi tả rồi. Thay vì thế, tôi nói đến vẻ đẹp của nhân cách của anh, nhân cách của một nghệ sĩ lớn, một nghệ sĩ trung thực, suy nghĩ và cảm nhận bằng chính lý trí và tâm hồn nghệ sĩ của mình. Tôi chỉ nói vắn tắt thế thôi, để những người đồng cảm có thể lặng lẽ nhận ra. Còn ai không nhận ra điều đó mà nghĩ TK tâng bốc Nguyễn Trọng Tạo chỉ vì anh ấy yêu thơ mình thì tôi sẽ không buồn vì sự hời hợt của họ.
    Tuy vậy, khi viết lời comment cám ơn tình cảm của những người đọc bài viết của Nguyễn Trọng Tạo trên trang blog của anh ấy dành cho hai chúng tôi, tôi đã ghi đường link dẫn đến tập thơ Trong Cơn Thao Thức trên trang web của nhà thơ Luân Hoán để các bạn ấy có dịp đọc và nhìn thấy rõ thêm tư cách một nghệ sĩ trung thực nơi Nguyễn Trọng Tạo và hiểu tại sao tôi dành cho anh ấy sự đánh giá rất cao.
    Lại Quảng Nam đã nhận thấy đó là một nhà thơ có tư cách.
    Tôi hoàn toàn đồng ý.

    Thiếu Khanh.

  13. thư của nguyễn trọng tạo

    Anh Thiếu Khanh thân mến,

    Tôi vừa xem bài Tình văn nghệ của anh trên trang Web anh Luân Hoán, và rất xúc động vì câu chuyện anh kể. Tôi nghĩ, tinh thần nhân văn sẽ bay vượt biên giới và thù địch, đó là sự gặp gỡ chung nhất của Con Người. Đó cũng là Con-Người-Nhân-Loại.

    Xưa đã vậy. Nay đang vậy. Và tương lai cũng vậy.

    Nếu văn chương làm người ta xúc động, chia sẻ, thì việc đầu tiên là người ta cảm mến, cảm phục và cảm ơn nhà văn, dù họ là ai, ở đâu. Người ta yêu quý nhà văn cũng chính vì lẽ đó.

    Trường hợp tôi thích và nhớ thơ Thiếu Khanh rồi đi tìm tác giả là vì thơ anh khiến tôi xúc động và cảm phục, cũng như tôi đã từng nghe trộm nhạc Trịnh Công Sơn vì thích, để rồi khi gặp nhau như đã quen từ lâu. Mà không chỉ có tôi, nhiều người lính miền Bắc thời chiến tranh cũng vậy, họ cầm súng nhưng họ có tâm hồn nhân văn. Khi chúng tôi làm cuốn sách đầu tiên về TCS, chúng tôi có cho in bài vở, hồi ức của bất cứ ai viết về TCS mà chúng tôi có được, từ trong nước đến hải ngoại, bất kể “tiểu sử” họ thế nào, miễn là họ đã yêu nhạc Trịnh… Khi làm cuốn sách này tôi nhận ra nhiều người đã có một tình yêu tác phẩm tác giả vượt lên tất cả những tục lụy, hệ lụy. Nhờ thế mà cuốn sách “Trịnh Công Sơn – một người thơ ca, một cõi đi về” dày 520 trang đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất suốt mấy tháng liền kể từ sau 45 ngày mất của ông. (Sau này tái bản, cuốn sách được đổi tên là Một cõi Trịnh Công Sơn). Có người nhận xét: Cuốn sách đầu tiên về TCS không phải được làm ở miền Nam nơi TCS gắn bó, mà là ở miền Bắc. Theo tôi, điều đó không quan trọng, quan trọng là tình yêu nghệ thuật mà thôi.

    Yêu ghét đối với nghệ thuật là chuyện bình thường. Thích khen, dở chê. Từ tác phẩm, người đọc sẽ cảm nhận được tác giả, và sự yêu ghét tác giả cũng vậy thôi.

    Sau bài Tình văn nghệ của Thiếu Khanh, tôi được đọc lá thư ngỏ anh gửi Lại Quảng Nam , tiếp tục những lý giải về cái “tình văn nghệ” đó. Tôi nghĩ, tính nhân văn khiến nhân cách con người định hình, có thể lớn, có thể không lớn… nhưng không thể phủ nhận tính nhân văn làm nên nhân cách đáng trọng ở con người, đặc biệt là người nghệ sĩ, người thay Chúa để chỉ giáo con đường hướng thiện.

    Cám ơn nhà thơ Thiếu Khanh đã gợi ra một vấn đề lớn giữa bao nhiêu cam go thù hận của dân tộc này sau cuộc chiến tranh nhuốm máu. Với tư cách nhà văn, chúng ta hãy làm sao, bằng tác phẩm, rung động trái tim con người để con người xích gần lại với nhau hơn là những lời hô hào sáo rỗng ngoài văn chương.

    Đọc lại những câu thơ anh trích dẫn, tôi dần nhớ được thơ anh nhiều hơn. Tôi hy vọng anh sẽ phục hồi được tập thơ Trong cơn thao thức mà tôi đã được đọc gần 40 năm trước. Thơ anh hay thơ Nguyễn Bắc Sơn tôi đều rất thích. Tôi và anh NBS cũng đã liên lạc được với nhau sau chiến tranh.

    Anh Thiếu Khanh thân mến,

    Tết nay Mẹ tôi quá yếu. Bà đã 88 tuổi. Từ mùng 1 Tết bà ngã bệnh già. Con cháu và bác sĩ túc trực ngày đêm. Vì thế tôi không vào mạng được để đọc và trả lời thư bạn bè. Giờ mới có một chút yên tĩnh, gửi anh mấy dòng thân ái.

    Chúc anh và gia đình an lành, thịnh đạt.

    Nguyễn Trọng Tạo
    Blog: http://nttnew.vnweblogs.com

  14. Chau Xuan Nguyen viết:

    Chào anh Nguyen Trọng Tạo,
    Ngưỡng mộ anh từ lâu, hôm nay đọc câu chuyện cảm động này. Câu chuyện này chứng tỏ rằng dầu gì đi nữa, chúng ta đều là ng VN, cùng một dòng máu và sự kết hợp và thông cảm sẽ đến thôi.
    Những khác biệt về ý thức hệ là điều ko quan trọng bằng chuyện chúng ta cùng là ng Việt và tất cả những gì chúng ta làm điều ưu tiên một phải là cho người dân VN, rồi những chuyện quyền lực, tiền tài, ngoại bang v.v.. là những điều gần cuối trg suy nghĩ của chúng ta. Tiếc rằng có 1 thiểu số coi trọng quyền lực và tiền tài hơn là dòng máu dân tộc. Chúc mừng anh đã tìm dc “soul mate” (người bạn tâm linh) của mình,
    Gửi lời chúc mừng đến nhà thơ Thiếu Khanh nhé,
    Thân ái,
    Chau Xuan Nguyen

  15. nguynchng viết:

    Kính mượn nơi nầy của anh Nguyễn Trọng Tạo để gửi vài dòng tới anh Điệp, xin cảm ơn.
    Kính anh Điệp, em là Phát vẫn thường uống cà phê cùng anh ở quán bà Thành Cẩm lệ, những tháng ngày anh lưu lạc trở về chốn cũ một thuở…iêu thương. Quá lâu chẳng được gặp lại anh, nơi nầy cũng tan tác theo đà …đổi mới, chỉ biết anh vẫn khỏe là mừng, cho em gửi lới thăm chị Phương Anh cùng Nguyễn Hoàng Đông Phương con anh với nhé,bên nhà nhau một thời với những ” mùa xuân có hoa rau muống” nói vậy là anh nhớ ra liền là ai. Kính chào anh.

    1. Nguyễn Thị Thanh Bình viết:

      Kính thưa chú Nguyễn Trọng Tạo,
      Nhân đây con cũng kính mượn “sân nhà” của chú để bày tỏ đôi dòng đến chú Phát (Cẩm Lệ, Đà Nẵng). Con xin cảm ơn chú!
      Kính chào chú Phát,
      Con là vợ anh Nguyễn Hoàng Đông Phương mà chú có nhắc ở trên. Vợ chồng con cũng đã về quê Cẩm Lệ thăm chơi vài lần và có nghe các dì kể rằng ba con (nhà thơ Thiếu Khanh) có viết tặng mẹ con truyện “Mùa xuân của hoa rau muống” rất cảm động. Con về Sài Gòn có kể lại thì ba vui lắm nhưng ba con nói rất tiếc là bản thảo đã không còn. Con đã lên mạng tìm rất nhiều lần nhưng không được. Con muốn tìm đọc lại chuyện tình cảm động mà ba đã dành tặng mẹ và đó cũng là một món quà tinh thần con tặng lại cho ba mẹ.
      Thưa chú Phát, nếu chú còn lưu giữ, sưu tầm hoặc biết thông tin “Mùa xuân của hoa rau muống” ở đâu thì chú cho con biết thông tin hoặc cho con xin bản lưu để làm một món quà ý nghĩa cho ba mẹ của con được không ạ?
      Kính chào chú,
      Nguyễn Thị Thanh Bình.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*